vanban.org

Bản án 49/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Phú C.

Về việc nuôi con: Giao con chung Nguyễn Minh Q, sinh ngày 30/7/2009 cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L- C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Phú C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17-8-2023
V/v ly h«n, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 623/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 741/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L; ĐKHKTT: Số G lô A L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số F Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Phú C; ĐKHKTT: Số G lô A L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số F Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Phú C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 25/11/2004. Sau khi kết hôn anh chị sống hòa thuận đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, cách sống dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình và bạn bè đã khuyên ngăn hòa giải nhiều nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai, kinh tế riêng biệt. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh C được ly hôn.

- Về con chung: Anh chị có hai con chung Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/8/2005 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 30/7/2009. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao hai con cho chị được nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 10/8/2023, chị L có đơn trình bày về việc trong quá trình giải quyết vụ án chị đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/8/2005 cho chị nuôi vì khi đó cháu N chưa đủ 18 tuổi. Đến nay cháu N đã trên 18 tuổi nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc giao cháu N cho chị nuôi.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Phú C vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có bản tự khai thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh C cũng như tống đạt các văn bản của Tòa án: Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy mời, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh C hợp lệ nhưng tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải anh C đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà, chị L giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C. Về con chung: Chị đề nghị con Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/8/2005 đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết; giao con chung Nguyễn Minh Q, sinh ngày 30/7/2009 cho chị nuôi.Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn anh Nguyễn Phú C. Về việc nuôi con: Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L về việc đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/8/2005 cho chị Nguyễn Thị Mỹ L nuôi. Giao con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 30/7/2009 cho chị L nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về việc chia tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Phú C cư trú trên địa bàn quận L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Phú C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Phú C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 25/11/2004. Vì vậy, hôn nhân giữa chị L và anh C là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, cách sống dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Toà án đã tiến hành hoà giải 02 lần nhưng anh C đều vắng mặt thể hiện không thiện chí kết hợp với Toà án để hoà giải việc đoàn tụ gia đình.

Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không quan tâm đến nhau, kinh tế riêng biệt. Xét mâu thuẫn giữa chị L và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh C.

+ Về việc nuôi con:

Chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Phú C có hai chung là Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/8/2005 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 30/7/2009. Ly hôn chị L đề nghị con Nguyễn Minh N đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết cháu Nguyễn Minh N chưa đủ 18 tuổi nhưng đến ngày xét xử cháu N đã đủ 18 tuổi và chị L cũng có đơn trình bày và tại phiên tòa không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc chị đề nghị được nuôi cháu N vì cháu N đã thành niên vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy việc chị L rút yêu cầu này là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên đình chỉ đối với yêu cầu này của chị L.

Đối với yêu cầu giao con Nguyễn Minh Q cho chị L nuôi, Hội đồng xét xử xét thấy anh C vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến về việc nuôi con và cháu Q có nguyện vọng được ở cùng chị L nên để chị L nuôi cháu Q sẽ đảm bảo quyền lợi của con. Vì vậy, cần áp dụng các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con chung Nguyễn Minh Q cho chị L nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

+ Về việc chia tài sản:

Chị Nguyễn Thị Mỹ L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Phú C.

- Về việc nuôi con: Giao con chung Nguyễn Minh Q, sinh ngày 30/7/2009 cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L về việc đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/8/2005 cho chị Nguyễn Thị Mỹ L nuôi.

- Về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Mỹ L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005482 ngày 21/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Mỹ L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Phú C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ