- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Dương Phi H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 11 - 2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Đạt –Thẩm phán.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Dũng Tấn;
2. Ông Trần Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TH tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh.
Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện TH, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ thục thông thường vụ án thụ lý số: 129/2023/TLST-HNGĐ ngày 18/7/2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/9/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/10/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1979; Địa chỉ: TK, thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa; Chị H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Dương Phi H, sinh năm 1976; Địa chỉ:TK, thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa; Anh H vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2023, bản tự khai ngày 18/7/2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày:
Giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Dương Phi H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vạn Hà (Nay là thị trấn TH), huyện TH, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 29/11/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2013 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, bản thân chị H đã cố gắng chịu đựng để vợ chồng hòa thuận nuôi dạy con cái nhưng vợ chồng tình cảm vẫn không cải thiện được; Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh Dương Phi H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Dương Đức Dũng sinh ngày 08/10/2005 và cháu Dương Đức Mạnh sinh ngày 02/10/2008; Ly hôn chị H đề nghị được nuôi 02 con chung yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu, mỗi tháng 1.500.000đ, hai cháu là 3.000.000đ mỗi tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 08/9/2023 chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã thông báo triệu tập hợp lệ anh Dương Phi H nhiều lần đến Tòa án làm việc và tham gia phiên tòa nhưng anh H không đến Tòa án làm việc, nên không có ý kiến của anh Dương Phi H.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Trong quá trình từ khi thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành tốt việc triệu tập của Tòa án; Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Điều 6, Điều 9; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn giữa chị H và anh H, về giao nuôi con: Hiện tại cháu Dương Đức Dũng đã Thành niên, nên giao chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Dương Đức Mạnh sinh ngày 02/10/2008; Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy;
. Về tố tụng: Anh Dương Phi H là bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu trường trú tại huyện TH vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TH theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H và chị H.
[2]. Về hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Dương Phi H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và không vi phạm các điều cấm của luật hôn nhân gia đình như vậy là hôn nhân hợp pháp. Thấy rằng quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chị H trình bày là do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn đã lâu; Tòa án đã mở phiên hòa giải, mở phiên tòa và triệu tập anh H nhiều lần nhưng anh H không có mặt, Điều này chứng tỏ, anh H bỏ mặc không tha thiết níu kéo hôn nhân, chị H vẫn cương quyết ly hôn và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa, như vậy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 điều 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị H được ly hôn anh H là phù hợp.
. Về con chung: Theo chị H khai vợ chồng có 02 con chung là Dương Đức Dũng sinh ngày 08/10/2005 và cháu Dương Đức Mạnh sinh ngày 02/10/2008, chị H xuất trình cho Tòa án bản sao giấy khai sinh cháu Dương Đức Dũng sinh ngày 08/10/2005 và cháu Dương Đức Mạnh sinh ngày 02/10/2008, có ghi họ tên bố là anh Dương Phi H, họ tên mẹ là chị Lê Thị H, như vậy đủ cơ sở khẳng định Dương Đức Dũng sinh ngày 08/10/2005 và cháu Dương Đức Mạnh sinh ngày 02/10/2008 là con chung của anh H và chị H. Hiện tại cháu Dũng đã thành niên tự lập được và cháu Mạnh đang ở với chị H, cháu Mạnh đã hơn 07 tuổi mong muốn ở với chị H, theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình quy định:
“2.Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”
Nên giao cháu Dương Đức Mạnh cho chị H nuôi dưỡng, tránh xáo trộn việc học hành và ổn định tâm lý của Mạnh vì cháu lâu nay vẫn ở với chị H là phù hợp.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng, chị H rút yêu cầu về việc cấp dưỡng nên ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
. Về tài sản và công nợ: Trong vụ án này, Hội đồng xét xử không biết được nội dung yêu cầu của anh H, đối với phần tài sản giữa anh H và chị Hung nếu có tài sản sẽ tự bàn bạc thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có đơn khởi kiện.
. Về án phí: Chị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
. Về phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:
Phát biểu của kiểm sát viên về việc chấp hànhpháp luật cũng như căn cứ, quan điểm về nội dung giải quyết về vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên, B v
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 9, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Dương Phi H.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu cháu Dương Đức Mạnh sinh ngày 02/10/2008 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Dương Phi H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở; Không lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cái.
3. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2022/0000576 ngày 17/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện TH, chị H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị H, anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện TH; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Thi hành án dân sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Dũng Tấn Trần Thanh Tùng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Dũng Tấn Nguyễn Xuân Thu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Văn Đạt HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Đạt HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Đạt |