vanban.org

Bản án 49/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Từ Thị A và anh Phạm Tùng N.

Về nuôi con chung: Giao cho chị A trực tiếp nuôi con Phạm Hải Đ, sinh ngày 18/10/2022, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về chia tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị A với anh N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Từ Thị A và anh Phạm Tùng N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-6-2023
V/v Ly hôn giữa chị
Anh và anh N.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Phượng

2. Bà Cao Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

Ngày 28-6-2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2023/TLST-HNGĐ ngày 16-5-2023 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08-6-2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Từ Thị A, sinh năm 1996. ĐKHK: tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Tạm trú: thôn Phú Vật, xã Tiến Đức, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Phạm Tùng N, sinh năm 1990. Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. (chị A, anh N đều có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Từ Thị A trình bày: Chị kết hôn với anh N là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H vào ngày 25/02/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được ít ngày thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau, ngoài ra chị có mâu thuẫn với bố, mẹ chồng dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, chị không khắc phục được đưa con về bố mẹ đẻ ở từ 01/4/2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân từ đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Hải Đ, sinh ngày 18/10/2022. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi con, chị xin nuôi con hoàn toàn, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về chia tài sản chung: không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn anh Phạm Tùng N trình bày: Về điều kiện, thời gian, địa điểm kết hôn như chị A trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên cãi cọ nhau. Chị A đưa con về bố mẹ đẻ ở từ ngày 01/4/2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân từ đó. Nay chị A xin ly hôn anh, anh cũng nhất trí. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị A được ly hôn. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Hải Đ, sinh ngày 18/10/2022. Khi ly hôn anh đồng ý cho chị A nuôi con, anh không cấp dưỡng nuôi con cùng chị A. Về chia tài sản chung: Không có, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện H nhận định:

Về tố tụng: Chị A khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh N, trú tại tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H; Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện H, tỉnh Thái Bình. Chị A, anh N, đều có đơn xin xử vắng mặt, do vậy Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị A, anh N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H vào ngày 25/02/2023, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi cọ nhau. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Chị A, anh N đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị A, anh N ly hôn. Hội đồng xét xử, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy cần xử cho ly hôn giữa chị A và anh N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị A và anh N có 01 con chung là Phạm Hải Đ, sinh ngày 18/10/2022. Khi ly hôn chị A xin được trực tiếp nuôi con, chị A không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con, anh N đồng ý. Hội đồng xét xử, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị A, anh N phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

Về chia tài sản chung: Chị A, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Từ Thị A và anh Phạm Tùng N.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị A trực tiếp nuôi con Phạm Hải Đ, sinh ngày 18/10/2022, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004163 ngày 16-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình (chị A đã nộp đủ tiền án phí).

5. Về quyền kháng cáo: Chị A, anh N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ