- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu Huỳnh Nh- Ngô Tấn L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Huỳnh Nh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Lưu Huỳnh Nh; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18/5/2023. V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Tuấn Hải.
2. Ông Danh Quí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 517/2022/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 12 năm 2022, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lưu Huỳnh Nh – sinh năm 1999, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp 14, xã V, huyện H, tỉnh B.
2. Bị đơn: Ông Ngô Tấn L - sinh năm 1991, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/12/2022, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Lưu Huỳnh Nh như sau:
Bà kết hôn với ông Ngô Tấn L vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng bà có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh B vào ngày 31/01/2018.
Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống hạnh phúc được hơn 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không còn hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vả, chồng bà không không quan tâm vợ con, ngoài ra vợ chồng còn mâu thuẫn về tiền bạc. Từ tháng 8/2021, vợ chồng ly thân cho đến nay. Sau thời gian mâu thuẫn và sống ly thân, bà xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được, bà không còn tình cảm yêu thương ông Ngô Tấn L nên bà yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Tấn L.
Thời gian chung sống với nhau vợ chồng bà có 01 người con chung tên Lưu Gia H – sinh ngày 21/11/2015, hiện bà đang nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung.
Nguyện vọng:
Về quan hệ hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Ngô Tấn L.
Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Lưu Gia H – sinh ngày 21/11/2015 và không yêu cầu ông Ngô Tấn L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Ngô Tấn L đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Ngô Tấn L không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Ngô Tấn L.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là không tuân thủ quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn; nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Lưu Huỳnh Nh được ly hôn với ông Ngô Tấn L. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lưu Gia H – sinh ngày 21/11/2015 cho bà Lưu Huỳnh Nh tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Lưu Huỳnh Nh và ông Ngô Tấn L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Lưu Huỳnh Nh có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Nh không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Lưu Huỳnh Nh.
Ông Ngô Tấn L là bị đơn trong vụ án, ông Ngô Tấn L có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Ngô Tấn L vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên, ngày 15 tháng 3 năm 2023, Tòa án làm việc với ông Danh S, giữ chức vụ Trưởng ấp A, xã Đ, huyện Gò Quao để xác minh về tình trạng hôn nhân và nơi cư trú của ông Ngô Tấn L thì được ông Sang cho biết ông Ngô Tấn L hiện vẫn còn hộ khẩu ở ấp A, xã Đ, huyện Gò Quao nhưng ông Ngô Tấn L đi làm ăn xa nên về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung giữa ông Ngô Tấn L và bà Lưu Huỳnh Nh thì ông Sang không nắm được. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho người nhà của ông L nhận thay và thực hiện các thủ tục niêm yết công khai theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Ngô Tấn L vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Ngô Tấn L.
Về hôn nhân: Bà Lưu Huỳnh Nh và ông Ngô Tấn L có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh B. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11, ngày 31/01/2018, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Lưu Huỳnh Nh và ông Ngô Tấn L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Lưu Huỳnh Nh và ông Ngô Tấn L là hôn nhân tự nguyện, vợ chồng bà có thời gian chung sống hạnh phúc hơn 03 năm và có 01 người con chung nhưng trong quá trình sống chung vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Lưu Huỳnh Nh cho rằng vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vả. Ông L không quan tâm lo lắng vợ con và vợ chồng bà còn mâu thuẫn về tiền bạc. Từ tháng 8/2021 vợ chồng ly thân cho đến nay, trong thời gian này vợ chồng bà không liên lạc với nhau, ông L không gọi điện thoại hỏi thăm hay chu cấp gì cho vợ con. Ngày 27/02/2023 và ngày 15/3/2023, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Ngô Tấn L không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay yêu cầu gì của ông Ngô Tấn L. Xét thấy, vợ chồng bà Lưu Huỳnh Nh và ông Ngô Tấn L đã sống ly thân với nhau tính đến ngày xét xử là gần 03 năm. Trong thời gian này, ông Ngô Tấn L không liên lạc với bà Nh điều đó chứng minh ông Ngô Tấn L không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này, cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Lưu Huỳnh Nh cương quyết xin ly hôn với ông Ngô Tấn L và khẳng định không còn tình cảm yêu thương ông Ngô Tấn L, vì vậy áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lưu Huỳnh Nh.
Về con chung: Bà Lưu Huỳnh Nh và ông Ngô Tấn L có 01 người con chung tên Lưu Gia H – sinh ngày 21/11/2015, bà Lưu Huỳnh Nh đang chịu trách nhiệm nuôi dưỡng.
Nay bà Lưu Huỳnh Nh xin được tiếp tục nuôi con chung tên Lưu Gia Hy – sinh ngày 21/11/2015. Ông Ngô Tấn L không nuôi con và không có ý kiến gì về quyền nuôi con nên căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lưu Huỳnh Nh.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lưu Huỳnh Nh không yêu cầu, vì vậy Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lưu Huỳnh Nh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn, đại diện Viện kiểm sát có đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Lưu Huỳnh Nh phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0001935, ngày 29/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Huỳnh Nh.
Về hôn nhân: Xử cho bà Lưu Huỳnh Nh và ông Ngô Tấn L được ly hôn với nhau.
Về con chung: Giao cháu Lưu Gia H – sinh ngày 21/11/2015 cho bà Lưu Huỳnh Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ông Ngô Tấn L được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép ngăn cản ông thực hiện quyền này.
Các đương sự được quyền xin thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lưu Huỳnh Nh phải chịu nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0001935, ngày 29/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS Gò Quao; - Chi cục THA; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |