vanban.org

Bản án 49/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thanh T, cho ông Nguyễn Thanh T ly hôn với bà Bùi Thị M.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bùi Đăng Khoa, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2019 cho bà Bùi Thị M trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng, mức cấp dưỡng là 1.200.000 đồng/tháng (một triệu hai trăm nghìn đồng một tháng), thời gia… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Thanh T ly hôn với bà Bùi Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thanh T, cho ông Nguyễn Thanh T ly hôn với bà Bùi Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 23-5-2023.
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Phương.

Ông Võ Tấn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023, về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1992, địa chỉ: Số nhà 119/2, ấp G, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

Bị đơn: Bà Bùi Thị M, sinh năm 1992, địa chỉ: Số nhà 17/1, ấp B, xã Bình Quới, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Nguyễn Thanh T là nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Ông T và bà M kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Ông T và bà M chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T và bà M không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Ông T và bà M không còn sống chung với nhau từ tháng 02 năm 2022 đến nay.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên ông T quyết định ly hôn với bà M.

Về con chung: Ông T và bà M có 01 con chung tên Nguyễn Bùi Đăng Khoa, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2019, hiện nay con đang sống với bà M. Ông T đồng ý để cho bà M trực tiếp nuôi con chung, ông T cấp dưỡng nuôi con định kỳ mỗi tháng, mức cấp dưỡng là 1.200.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Ông T và bà M không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông T cam kết là ông T và bà M không có nợ chung.

Bị đơn là bà Bùi Thị M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Các đương sự không còn trình bày hay yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Ông Nguyễn Thanh T và bà Bùi Thị M kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Nay ông T yêu cầu ly hôn với bà M, căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An thụ lý giải quyết.

Bà Bùi Thị M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với bà Bùi Thị M.

Ông Nguyễn Thanh T và bà Bùi Thị M chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T và bà M không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Các đương sự không hòa giải được mâu thuẫn làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Ông T và bà M không còn sống chung với nhau từ tháng 02 năm 2022 đến nay. Bà M không tham gia tố tụng, không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của ông T. Xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự là trầm trọng, đời sống chung của các đương sự không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T, cho ông T ly hôn với bà M.

Về con chung: Ông T và bà M có 01 con chung tên Nguyễn Bùi Đăng Khoa, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2019, hiện nay con đang sống với bà M. Ông T đồng ý để cho bà M trực tiếp nuôi con chung, ông T cấp dưỡng nuôi con định kỳ mỗi tháng, mức cấp dưỡng là 1.200.000 đồng/tháng, thời gian bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là từ tháng 6 năm 2023 cho đến khi con chung tên Nguyễn Bùi Đăng Khoa đủ mười tám tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy bà M không có ý kiến gì về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu của ông T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận.

Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Nguyễn Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm do thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, bà Bùi Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng các khoản 5 và 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thanh T, cho ông Nguyễn Thanh T ly hôn với bà Bùi Thị M.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bùi Đăng Khoa, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2019 cho bà Bùi Thị M trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng, mức cấp dưỡng là 1.200.000 đồng/tháng (một triệu hai trăm nghìn đồng một tháng), thời gian bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là từ tháng 6 năm 2023 cho đến khi con chung tên Nguyễn Bùi Đăng Khoa đủ mười tám tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm do thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Thanh T đã nộp theo biên lai thu số 0006622, ngày 13 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An, ông Nguyễn Thanh T phải nộp thêm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Bà Bùi Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Ông Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Bùi Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:

Cỡ chữ