vanban.org

Bản án 49/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Dương Thúy L được ly hôn anh Vũ Anh T.

Về con chung: 1 Giao cháu Vũ Dương Ngọc A, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2022 cho chị Dương Thúy L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị Dương Thúy L và anh Vũ Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Hoặc cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thúy L và Vũ Anh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Dương Thúy L được ly hôn anh Vũ Anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14-8-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Đạt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thắng

Bà Phạm Thị Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gấm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 42/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 659/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thúy L; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Vũ Anh T; ĐKTT: Thôn B, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; đang chấp hành án tại Trại giam X, địa chỉ: Xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Dương Thúy L trình bày: Chị và anh Vũ Anh T kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, chị và anh T chung sống cùng bố, mẹ anh T tại xã Q. Trong quá trình chung sống, chị và anh T thường xảy ra mâu thuẫn do tính cách và lối sống không hòa hợp; anh T ham chơi, thiếu sự quan tâm đến gia đình, vợ, con. Năm 2022, anh T phạm tội và bị kết án 12 năm tù. Hiện nay, anh T đang chấp hành án tại Trại giam X, địa chỉ: Xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên. Sau khi anh T bị bắt, chị đã chuyển về sinh sống tại thôn N, xã T cùng bố, mẹ đẻ. Đến nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn anh T. Chị và anh T có 01 con chung tên là Vũ Dương Ngọc A, sinh ngày 02-7-2022. Chị nhận nuôi cháu Ngọc A, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các bản khai, bị đơn là anh T trình bày: Anh và c L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2021. Trong quá trình chung sống, anh và chị L thường phát sinh những mâu thuẫn nhỏ. Nguyên nhân là do vợ, chồng tính cách không phù hợp, quan điểm sống bất đồng. Đến năm 2022, anh bị kết án 12 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện nay, anh đang chấp hành án tại Trại giam X. Nay chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Anh và chị L có 01 con chung là Vũ Dương Ngọc A, sinh ngày 02-7-2022. Do thời gian chấp hành án của anh còn dài, cháu Ngọc A còn nhỏ nên anh đề nghị Tòa án giao cháu Ngọc A cho chị L nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được thể hiện: Trong quá trình chung sống, chị L và anh T thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã; cuộc sống không hòa hợp, hạnh phúc. Tháng 5-2022, anh T bị bắt về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; đến năm 2023, bị xử phạt 12 năm tù, hiện đanh chấp hành án tại Trại giam X. Từ khi anh T bị bắt đến nay, cháu Ngọc A ở cùng chị L, được chị L nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh T; giao cháu Ngọc A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung, đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của đương sự, kết quả xác minh, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án có quan hệ tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung, bị đơn là anh Vũ Anh T, cư trú tại: Thôn B, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân:

Chị Dương Thúy L và anh T tự nguyện kết hôn, đủ độ tuổi kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 16-12-2021. Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chị L và anh T chỉ chung sống hoà thuận trong thời gian ngắn sau kết hôn, sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không hoà thuận, hạnh phúc. Tháng 5-2022, anh T bị bắt về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; đến năm 2023, bị xử phạt 12 năm tù và hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam X. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T đồng ý ly hôn chị L. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung là Vũ Dương Ngọc A, sinh ngày 02-7-2022. Hiện tại, anh T không đủ điều kiện nuôi con, cháu Ngọc A đã và đang chung sống ổn định cùng chị L, được nuôi dưỡng và chăm sóc chu đáo. Anh T có nguyện vọng giao con chung cho chị L nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cháu Ngọc A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quyền kháng cáo: Chị L và anh T vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Dương Thúy L được ly hôn anh Vũ Anh T.

2. Về con chung:

2.1 Giao cháu Vũ Dương Ngọc A, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2022 cho chị Dương Thúy L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị Dương Thúy L và anh Vũ Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Hoặc cho đến khi chị Dương Thúy L và anh Vũ Anh T có sự thay đổi về người trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2.2 Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Dương Thúy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0001507 ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, chị Dương Thúy L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Dương Thúy L và anh Vũ Anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ