vanban.org

Bản án 49/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của bà Nguyễn Thị Ý N.

Buộc ông Đặng Văn L giao cháu Đặng Ngọc Khánh Q, sinh ngày 16/7/2021 cho bà Nguyễn Thị Ý N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đặng Văn L về việc cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Ngọc Khánh Q 2.000.000 đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Ý Nhi yêu cầu thay đổi người nuôi con đối với ông Đặng Văn Lộc"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của bà Nguyễn Thị Ý N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————
Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST
Ngày 19-4-2023
V/v tranh chấp thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung – Giáo viên hưu trí;

2. Bà Phạm Tú Nhi – Cán bộ hưu trí;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 630/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ý N, sinh năm 1999; thường trú: Ấp 2, xã L, thị xã M, tỉnh H.

Người đại diện hợp pháp: Bà Bà Đặng Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Số 10 đường E, trung tâm hành chính D, khu phố N2, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền, (có mặt).

- Bị đơn: Ông Đặng Văn L, sinh năm 1998; thường trú: Số 12/2, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1966; thường trú: Số 12/2, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt);

2. Bà Hà Thị N1, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp 2, xã L, thị xã M, tỉnh H (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2022 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ý N và đại diện của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ý N và ông Đặng Văn L kết hôn với nhau vào năm 2021, trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Đặng Ngọc Khánh Q, sinh ngày 16/07/2021. Do đời sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên đã ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 517/2022/QĐCNTTLH ngày 05/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ý N và ông Đặng Văn L. Về con chung, hai bên thỏa thuận ông L là người trực tiếp nuôi cháu Khánh Q. Quá trình giải quyết ly hôn, ông L chỉ đồng ý ly hôn khi bà N giao cháu Khánh Q cho ông L nuôi dưỡng, ông L hứa sau khi ly hôn thì mẹ ông L (bà nội của cháu Khánh Q) sẽ nghỉ việc để ở nhà chăm sóc nên bà N yên tâm mới đồng ý giao con cho ông L nuôi. Tuy nhiên, sau khi có quyết định của Tòa án, ông L không có thời gian chăm sóc con, luôn để cháu bị bệnh, không tiêm phòng đầy đủ cho cháu. Gia đình ông L cũng không ai phụ chăm sóc cháu, ông L đi làm theo ca nên thường xuyên gửi cháu cho một nhà trẻ gần đó trong khi cháu còn rất nhỏ. Vì thương con nên bà N đã nghỉ việc ở công ty để đưa cháu về nuôi, ông L cũng đồng ý, nên từ tháng 11/2022 bà N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến nay. Bà N mở quán tạp hóa bán để có thu nhập nuôi con và có thời gian chăm sóc cháu Khánh Q. Từ khi mang cháu Quỳnh về nuôi, bà N đã chích ngừa cho cháu Quỳnh được 02 mũi vắc xin Ho bạch hầu và uốn ván, mũi viêm phổi và viêm màng não. Để đảm bảo quyền lợi của con, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ ông Đặng Văn L sang cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.

Bị đơn ông Đặng Văn L trình bày:

Ông Đặng Văn L thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về thời gian kết hôn, thời gian ly hôn, con chung và sự thỏa thuận của các bên khi ly hôn. Sau khi ly hôn, ông L đã thực hiện đúng theo quyết định của Tòa án. Cháu Khánh Q do ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và sống chung với bà nội. Hiện nay, ông L làm công nhân bộ phận mài của Công ty Freetrend ở Khu chế xuất Linh Trung 1. Mức lương hàng tháng khoảng 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng, công việc làm 03 ca (ca 1 từ 06 giờ sáng đến 14 giờ chiều, ca 2 từ 14 giờ đến 22 giờ, ca 3 từ 22 giờ đêm đến 06 giờ sáng), cứ 02 tuần đảo ca 01 lần. Bà nội cháu Khánh Q làm nghề phụ bán quán cơm gần chùa Cao Đài ở phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian làm việc từ 07 giờ 30 đến 10 giờ sáng, buổi chiều từ 14 giờ đến 21 giờ 10 phút thì tan làm. Thời gian cháu Khánh Q sống chung với ông L thì buổi sáng ông L và mẹ thay phiên nhau đưa cháu đi học nhóm trẻ gần nhà, nếu ngày nào làm ca hai thì ông L nhờ cô ruột đón cháu về, đến 22 giờ đêm ông L đi làm về thì chăm sóc cháu. Con ông L hiện nay nặng bao nhiêu kg thì ông L không biết vì từ tháng 11/2022 đến nay bà N đón cháu về nuôi. Mỗi tháng ông L gửi 2.000.000 đồng phụ bà N tiền mua sữa cho con. Nay bà N yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì ông L không đồng ý. Vì ở dưới quê môi trường sống không tốt, nhiều muỗi, không có nước sạch, chỉ cho cháu uống nước mưa đun sôi để nguội. Nhà của bà N ở gần sông nên ông L sợ nguy hiểm cho con. Nếu trường hợp Tòa án giải quyết cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng con chung thì ông L tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Người làm chứng bà Phạm Thị Ngọc H trình bày: Bà H là mẹ ruột của ông L. Hiện nay Bà H phụ bán quán cơm, mức thu nhập 6.000.000 đồng/tháng, thời gian làm việc từ 08 giờ sáng đến 11 giờ trưa, buổi chiều từ 14 giờ đến 21 giờ, mỗi tháng làm đủ 30 ngày. Trước khi sinh con, bà N làm giờ hành chính, không làm ca. Sau khi sinh con, Nhi ở nhà chăm con, đến khi con đi gửi nhà trẻ thì cả nhà phụ nhau chăm sóc cháu Khánh Q. Do thời điểm đó, Nhi làm giờ hành chính nên có nhiều thời gian chăm sóc con, buổi chiều Nhi đi làm về thì đón cháu, ngày nào Lộc làm ca sáng thì cũng đi đón con. Cháu Khánh Q uống sữa gì thì bà không biết, vì sữa do cha mẹ cháu mua nên Bà H không để ý. Việc hai con tranh chấp giành quyền nuôi con, Bà H cũng khuyên nhủ rất nhiều, khuyên ông L nên để cho Nhi trực tiếp nuôi con vì cháu Khánh Q là con gái, lại nhỏ tuổi. Thậm chí, cả hai chị gái của L cũng khuyên nhủ như vậy nhưng L không đồng ý.

Người làm chứng bà Hà Thị N1 trình bày: Bà Hà Thị N1 là mẹ ruột của bà N. Sau khi ly hôn được ít ngày thì N đưa cháu Khánh Q về quê sinh sống cùng vợ chồng bà. Bà có hỏi chuyện thì N kể do Lộc không có thời gian chăm sóc con (L đi làm công nhân, bà nội cũng bận đi làm), không cho con tiêm phòng đầy đủ nên cháu N xin nghỉ việc và yêu cầu chăm sóc con thì cháu L đồng ý nên cháu N đưa bé Khánh Q về quê sống với bà. Kể từ khi N đưa cháu Khánh Q về sinh sống cùng vợ chồng bà, bà có mở quán tạp hóa cho N buôn bán lấy tiền nuôi con, việc buôn bán tiệm tạp hóa mỗi tháng cháu N kiếm được khoảng 5.000.000 đồng – 6.000.000 đồng. Ngoài việc vừa có thể kiếm tiền, vừa có thời gian chăm con thì cháu N còn được vợ chồng bà phụ giúp trông nom, chăm sóc cho cháu Khánh Q. Nay giữa hai cháu xảy ra tranh chấp về con, bà mong Tòa án xem xét vì cháu Khánh Q còn nhỏ, lại là con gái. Bà N1 cam đoan hỗ trợ cháu N về chỗ ở và chăm sóc bé Khánh Q lâu dài.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của bà N. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của bà N được quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Xét thấy, việc đưa bà Phạm Thị Ngọc H và bà Hà Thị N vào tham gia vụ án với tư cách là người làm chứng là cần thiết, nên Tòa án đưa Bà H, bà N1 tham gia với tư cách là người làm chứng. Do bà Nơi có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.

Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị Ý N và ông Đặng Văn L kết hôn với nhau vào năm 2021, vợ chồng có 01 con chung tên Đặng Ngọc Khánh Q, sinh ngày 16/07/2021. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau nên vợ chồng đã ly hôn. Căn cứ Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 517/2022/QĐCNTTLH ngày 05/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì Tòa án đã giao cho ông L trực tiếp nuôi cháu Khánh Q.

Xét thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì việc giao con cho bố, mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung. Tức là phải xem xét đến quyền lợi về vật chất cũng như tinh thần của con chung, phải làm sao để con chung được phát triển một cách toàn diện nhất, đảm bảo quyền lợi tối đa về mọi mặt của con chung.

Xét về điều kiện chăm sóc con chung:

Xét về nghề nghiệp, điều kiện kinh tế của bà N và ông L: Hồ sơ vụ án thể hiện, ông L có thu nhập là 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng/tháng, bà N có thu nhập mỗi tháng khoảng 6.000.000 đồng. Như vậy, cả hai đương sự đều đảm bảo khả năng kinh tế để nuôi con.

Về chỗ ở: Ông L hiện đang sống chung với với mẹ ruột tại địa chỉ Số 12/2, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà N đang sống chung với cha mẹ ruột tại Ấp 2, xã L, thị xã M, tỉnh H. Như vậy, cả hai đương sự đều đảm bảo điều kiện về chỗ ở ngang bằng nhau để nuôi dưỡng con.

Điều kiện về mặt thời gian:

Ông L thừa nhận, ông L làm công nhân, công việc phải làm 03 ca, cứ hai tuần đảo ca một lần nên điều kiện về thời gian để chăm sóc con cũng gặp khó khăn hơn. Ông L sống chung với mẹ là bà Phạm Thị Ngọc H, nên ông L cho rằng sống với ông L thì có bà nội phụ giúp chăm sóc cháu. Tuy nhiên, Bà H phụ bán quán cơm, mỗi ngày Bà H đều kết thúc công việc vào lúc 21 giờ đêm nên việc giúp đỡ ông L trong việc chăm sóc bé Khánh Q cũng hạn chế. Bà N ở nhà bán quán tạp hóa nên có thời gian nhiều hơn để chăm sóc cho bé Khánh Q. Bà N sống chung với cả cha và mẹ nên còn có ông bà ngoại phụ giúp trong việc chăm sóc con. Ông L cho rằng bé Khánh Q sống ở quê thì điều kiện sống không tốt, nhiều muỗi và nhà ở gần sông nên nguy hiểm. Lời trình bày này của ông L là không phù hợp, vì cháu Khánh Q sống cùng mẹ từ tháng 11/2022 đến nay và vẫn phát triển tốt, cân nặng còn tăng hơn so với thời điểm sống cùng ông L và được bà N cho đi chích ngừa vắc xin đầy đủ. Đồng thời, theo khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Xét thấy, cháu Khánh Q là con gái, dưới 36 tháng tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc từ người mẹ. Bà N có việc làm, thu nhập và chỗ ở ổn định đảm bảo tốt cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng con. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Khánh Q cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi nên Tòa án ghi nhận sự tự nguyện của ông L.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đặng Văn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 28, Điều 147, 229 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của bà Nguyễn Thị Ý N.

2. Buộc ông Đặng Văn L giao cháu Đặng Ngọc Khánh Q, sinh ngày 16/7/2021 cho bà Nguyễn Thị Ý N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đặng Văn L về việc cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Ngọc Khánh Q 2.000.000 đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này. Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đặng Văn L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí về thay đổi người trực tiếp nuôi con và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng. Bà Nguyễn Thị Ý N không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà N 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai số 0005938 ngày 22-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

5. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ