vanban.org

Bản án 49/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 21/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Cà Văn S 20 (Hai mươi) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Cà Văn S. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Cà Văn S 20 (Hai mươi) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MS
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HSST
Ngày 21 tháng 4 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ và ông Hà Văn Sơ

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Cà Văn S, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 05 tháng 9 năm 1985 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản NL, xã CN, thành phố SL, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Cà Văn U sinh năm 1962 và bà Tòng Thị C sinh năm 1961. Bị cáo có vợ Hoàng Thị D, sinh năm 1988, trú tại bản NL, xã CN, thành phố SL, tỉnh Sơn La. Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007 và con nhỏ nhất sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1988, trú tại bản NL, xã CN, thành phố SL, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/12/2021, Cà Văn S đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết từ nhà tại bản NL, xã CN, thành phố Sơn La đến xã PC, huyện MS, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Khoảng 11 giờ cùng ngày, tại khu vực bản HT, xã PC, huyện MS, S gặp một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) đứng bên đường. S hỏi và đặt vấn đề mua 20 viên Hồng phiến với giá 500.000VNĐ. S cất gói ma túy mua được vào túi áo khoác đang mặc rồi đi nhờ xe của một người không quen biết về nhà. Từ ngày 12/12 đến ngày 14/12/2021, S sử dụng hết 06 viên hồng phiến, còn 14 viên Hồng phiến S cất giấu như ban đầu. Ngày 15/12/2021, S đem theo số ma túy cất giấu trong túi áo khoác bên trái đi đến bản NP, xã CM, huyện MS để tìm được việc làm thuê thì bị Tổ công tác Công an huyện MS phát hiện bắt quả tang và thu giữ 14 viên Hồng phiến.

Ngày 15/12/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện MS đã phối hợp với Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Cà Văn S, kết quả: Khối lượng 14 viên nén màu hồng là 1,49 gam, lấy 0,50 gam ký hiệu M làm mẫu trưng cầu giám định.

Kết luận số 13/KLMT ngày 17/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,50 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,49 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSMS ngày 25/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MS truy tố bị cáo Cà Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn S từ 20 đến 24 tháng tù.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh giấy màu trắng gói ma túy ban đầu; 0,99 gam Methamphetamine được niêm phong trong một phong bì do Công an huyện MS phát hành và vỏ phong bì cũ gửi giám định được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành.

Trả lại cho bị cáo Cà Văn S 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ.

Trả lại cho bị cáo và chị Hoàng Thị Du số tiền là 4.200.000VNĐ.

Bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc trả lại số tiền 4.200.000VNĐ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện MS đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện MS lập vào hồi 07 giờ 00 phút ngày 15/12/2021 đối với bị cáo Cà Văn S cùng toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói bằng giấy trắng có chứa 14 viên Hồng phiến có khối lượng 1,49 gam, bị cáo thừa nhận là chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 13 ngày 17/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“M u gửi giám định ký hiệu M là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của m u gửi giám định là 0,50 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,49 gam, loại Methamphetamine”.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, nên đã mang theo 500.000đ đi mua được 20 viên Hồng phiến (bị cáo đã sử dụng hết 06 viên) của một người đàn ông không biết tên tuổi tại khu vực bản HT, xã PC, huyện MS, tỉnh Sơn La với mục đích để sử dụng cho bản thân là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Cà Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Xét tính chất vụ án:

Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua ma túy cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có ông nội Cà Văn K được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh giấy màu trắng gói ma túy ban đầu được niêm phong trong một phong bì do Công an huyện MS phát hành; vỏ phong bì cũ gửi giám định được niêm phong trong phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 0,99 gam Methamphetamine vật chứng còn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 4.200.000VNĐ là tiền do bị cáo lao động mà có, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo và vợ là Hoàng Thị D quản lý, sử dụng.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, bị cáo khai mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại bản HT, xã PC, MS, Sơn La. Việc mua bán trao đổi giữa hai bên không có người biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về toàn bộ khối lượng Methamphetamine thu giữ trong vụ án là 1,49 gam.

Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Cà Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cà Văn S 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Cà Văn S.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh giấy màu trắng gói ma túy ban đầu và 0,99 gam Methamphetamine được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện MS phát hành và vỏ phong bì cũ gửi giám định được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành.

Trả lại cho bị cáo Cà Văn S 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ.

Trả lại cho bị cáo và chị Hoàng Thị D số tiền là 4.200.000VNĐ (Bốn triệu hai trăm nghìn) đồng.

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ