vanban.org

Bản án 49/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 15/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đan Trường phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt: Nguyễn Đan Trường: 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là: 18 (Mười tám) tháng cải tạo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đan Trường và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đan Trường phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HS - ST
Ngày: 15 -11 - 2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phạm Hoàng Tuấn – Bí thư Đoàn TNCS HCM huyện Phù Ninh.

- Bà Nguyễn Thị Hoa – Giáo viên nghỉ hưu tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lƣơng Anh Tuấn – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Phù Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 15/11/2022 tại Trụ sở TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, TAND huyện Phù Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2022/HSST ngày 10/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2022/QĐXXST - HS ngày 04/11/2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đan Trƣờng, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06/02/2004; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 8, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Bắc; Con bà: Nguyễn Thị Hồng; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại khu 8, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, có mặt.

2. Đào Quang Hợp, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11/8/2004 (Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo được 17 tuổi 08 tháng 27 ngày); Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 5, xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đào Văn Thu; Con bà: Nguyễn Thị Hiền; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại khu 5, xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, có mặt.

Người đại diện cho bị cáo: Ông Đào Văn Thu , sinh năm 1974 (bố đẻ bị cáo).

Địa chỉ: Khu 5, xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Hôm nay, có mặt.

3. Trần Đức Hậu, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 27/9/2005 (Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo được 16 tuổi 07 tháng 14 ngày); Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 2, xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Xuân Toản; Con bà: Phạm Thị Hiền; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại khu 2, xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, có mặt.

Người đại diện cho bị cáo: Bà Phạm Thị Hiền, sinh năm 1984 (mẹ đẻ bị cáo).

Địa chỉ: Khu 2, xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Hôm nay, có mặt.

4. Nguyễn Ngọc Tuấn, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23/7/2005 (Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo được 16 tuổi 09 tháng 18 ngày); Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 3, xã Phú Nham, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình Thi; Con bà: Hoàng Ngọc Phượng; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại khu 3, xã Phú Nham, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, có mặt.

Người đại diện cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình Thi , sinh năm 1983 (bố đẻ bị cáo).

Địa chỉ: Khu 3, xã Phú Nham, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Hôm nay, có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo Đào Quang Hợp, Trần Đức Hậu và Nguyễn Ngọc Tuấn: Bà Bùi Thị Thanh Nga - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tậm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, có mặt.

* Những người bị hại:

- Anh Lê Anh Quang, SN 1990.

Địa chỉ: Khu 11, xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Anh Mè Quang Tùng, SN 1979.

Địa chỉ: Khu 3, xã Lệ Mỹ, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lâm Nguyễn Ngọc Đăng, sinh ngày 08/3/2007.

Người đại diện cho anh Đăng: Ông Lâm Văn Hải, SN 1981 (bố đẻ anh Đăng).

Đều có chỉ: Thôn Đồng Thanh, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Ông Nguyễn Văn Bắc, SN 1977.

Địa chỉ: Khu 8, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Bà Phạm Thị Hiền, SN 1984.

Địa chỉ: Khu 2, xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Hôm nay, đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ 1: Khoảng 13 giờ ngày 08/05/2022 Lâm Nguyễn Ngọc Đăng, sinh ngày: 08/3/2007 trú tại thôn Đồng Thanh, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe mô tô biển số: 19P1 – 366.14 của Nguyễn Đan Trường, sinh ngày 06/2/2004 trú tại khu 8, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (đăng ký xe mang tên ông Nguyễn Văn Bắc, sinh năm: 1977 là bố đẻ của Trường), đến đón Đào Quang Hợp, sinh ngày: 11/8/2004 trú tại Khu 5 xã Bảo Thanh huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ để đi chơi. Khi đi qua nhà anh Lê Anh Quang, sinh năm: 1990 trú tại khu 11, xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thì Đăng và Hợp nhìn thấy cổng không đóng, trong sân treo nhiều lồng chim cảnh, không thấy có người trong nhà. Đăng và Hợp thống nhất sẽ lấy trộm lồng chim và chim để đem bán lấy tiền chia nhau. Hợp điều khiển xe dừng trước cổng nhà anh Quang đứng trông còn Đăng xuống xe đi vào lấy chiếc lồng chim bên trong có con chim chào mào rồi đi ra ngồi lên xe. Hợp điều khiển xe máy đi ra đường quốc lộ 2 rồi đi về theo hướng Việt Trì – Đoan Hùng. Trên đường đi Đăng gọi điện thoại qua ứng dụng messenge cho Nguyễn Đan Trường sinh 06/02/20004 trú tại Khu 8 xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và nói là Đăng có con chim chào mào mang từ nhà sang nên nhờ Trường quen ai thích mua chim thì bảo Đăng để bán. Trường trả lời Đăng là gọi cho anh Nguyễn Bảo Long, sinh năm: 2004 trú tại khu 6, xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ vì anh Long có anh trai là anh Nguyễn Tiến Tài, sinh năm: 1995 trú tại khu 6, xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thích mua chim. Đăng gọi điện cho anh Long hỏi anh Long có mua chim chào mào không thì anh Long đồng ý xem chim chào mào tại nhà của Trường. Sau đó Đăng tiếp tục gọi điện thoại cho Trường hỏi xem Trường đang ở đâu đến đón vì Đăng hẹn gặp Long để xem chim chào mào ở nhà Trường. Trường nói đang chơi ở nhà Trần Đức Hậu, sinh ngày: 27/9/2005 trú tại khu 2, xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Lúc này Hợp chở Đăng đến đón Trường để về nhà Trường. Trên đường về Đăng nói cho Trường biết lồng chim và con chim chào mào là do Đăng và Hợp trộm cắp tại xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Đăng nhờ Trường nhận là chim của Trường mang từ Hà Nội về và đã thi đấu có giải để bán cho anh Long được giá cao, Đăng bảo bán lồng chim và chim chào mào với giá là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Trường đồng ý. Khi về đến nhà Trường thì anh Long và anh Tài đã có mặt ở nhà Trường. Trường cầm lấy lồng chim và con chim giới thiệu cho anh Long và anh Tài là con chim này Trường vừa mang từ Hà Nội về, con chim này đã thi đấu có giải, giá bán là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Anh Tài và anh Long xem chim và bảo giá cao có giảm không. Thì Trường nói không giảm. Long và Tài chê đắt nên đi về. Đến 17 giờ cùng ngày, anh Long gọi điện thoại cho Đăng muốn được thử chim chào mào có hót không, Đăng đồng ý nên cùng Trường đi về nhà Trường để lấy chim đem đi thử, sau khi thử chim, chim không hót Đăng bảo bán 3.000.000đ. Anh Tài không mua nên cùng anh Long đi về nhà. Sau đó Đăng và Trường lại đem để lại chim chào mào cùng lồng chim về nhà Trường cất giữ.

Đến khoảng 10 giờ ngày 10/5/2022, anh Long đến nhà Trường để chơi thì gặp Đăng đang ở đây. Đăng nói với anh Long là sẽ bán chim chào mào nhưng không cùng lồng chim với giá là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Anh Long gọi điện thoại cho anh Tài để nói về việc Đăng bán chim giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Sau đó Đăng nói chuyện với anh Tài và thống nhất anh Tài mua con chim chào mào với giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng) nhưng không cùng lồng chim. Anh Tài đồng ý nên bảo anh Long trả tiền cho Đăng. Khi trả tiền cho Đăng do Long chỉ có 1.900.000đ tiền mặt thì Long nói chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng 100.000đ. Do Đăng không có tài khoản ngân hàng nên Long đã chuyển khoản vào tài khoản của Trường 100.000đ và đưa cho Trường 1.900.000đ. Lúc này Trường có 100.000đ tiền mặt nên cầm của Long 1.900.000đ rồi đưa lại cho Đăng số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Anh Long bắt con chim chào mào sang chiếc lồng chim cũ hơn ở nhà Trường rồi đi về, Đăng để chiếc lồng chim ở nhà Trường rồi cùng Trường đến nhà Hợp, Đăng đưa cho Hợp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và nói là tiền bán chim chào mào. Số tiền còn lại 1.700.000đ Đăng sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Quá trình điều tra đã thu giữ con chim và lồng chim.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 30 và số: 31 ngày 03/6/2022 của Hội đồng đi ̣nh giá tà i sản trong Tố tụng hình sự huyê ̣n Phù Ninh kết luận : Giá trị của con chim chào mào, loại chào mào mũ, má đỏ, giống đực, khoảng 2 năm tuổi, lông màu: đen – nâu – trắng, mào đinh, còn sống, chưa tham gia các cuộc thi chào mào hót tại thời điểm tháng 5/2022 là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng); Giá trị chiếc lồng chim, loại lồng đục, bằng gỗ xoan, đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 5/2022 là 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng).

Vụ 2: Sau khi đưa tiền bán chim cho Hợp thì Trường và Hợp đến nhà Hậu chơi. Lúc này tại nhà Hậu có Hậu, Trường, Đăng, Hợp và Nguyễn Ngọc Tuấn sinh 23/07/2005. Trú tại Khu 3 xã Phú Nham. Tất cả thống nhất là sẽ đi tìm nhà ai có chim cảnh để đột nhập trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài. Buổi tối cùng ngày tất cả đi chơi đến khoảng hơn 01 giờ ngày 11/5/2022 Trường, Đăng, Tuấn, Hậu và Hợp về nhà Trường rồi thống nhất đến nhà anh Mè Quang Tùng, sinh năm: 1979 thuộc khu 3, xã Lệ Mỹ, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ để lấy trộm chim cảnh. Trường điều khiển xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: VISION, màu sơn: trắng – đen, có biển số: 19P1 – 366.14 chở Tuấn và Hậu. Hợp điều khiển xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: đen – bạc, biển Kiểm soát: 19P1 – 361.57 (xe mang tên Phạm Thị Hiền mẹ Hậu) chở Đăng đi đến nhà anh Mè Quang Tùng, sinh năm: 1979 thuộc khu 3, xã Lệ Mỹ, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Khi đến nơi, Trường và Hợp dừng đỗ xe, tắt máy nhưng vẫn để khoá ở vị trí mở. Hậu, Tuấn, Đăng xuống xe. Đăng trèo qua bờ tường đi vào khu vực sân, vị trí nơi có mái che là nơi để xe của nhà anh Tùng, có treo nhiều lồng chim. Đăng lấy 01 (một) chiếc lồng chim được phủ vải bên ngoài rồi mang ra đưa cho Hậu đứng ở ngoài đường rồi Đăng tiếp tục quay lại. Tuấn cũng từ ngoài đường trèo vào và cùng Đăng mỗi người lấy 01 (một) lồng chim được phủ vải bên ngoài. Tuấn đưa lồng chim cho Hậu rồi trèo ra ngoài. Đăng tay xách chiếc lồng chim, trèo ra ngoài. Hậu cầm 02 (hai) lồng chim ngồi lên xe của Trường, Tuấn ngồi sau. Đăng cầm 01 (một) lồng chim ngồi lên xe của Hợp. Tất cả đi về nhà Trường, kiểm tra bên trong lồng chim thì mỗi lồng chim có 01 (một) con chim chào mào nên để ở nhà Trường rồi đi ngủ. Đến buổi sáng cùng ngày, Hậu điều khiển xe máy đi về còn Tuấn cũng ra về. Đến khoảng hơn 13 giờ cùng ngày khi Trường, Đăng, Hợp đi chơi ở khu 5, xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thì bị Công an huyện Phù Ninh, triệu tập làm việc. Quá trình điều tra đã thu giữ được 3 con chim và 3 lồng chim trộm cắp của gia đình anh Tùng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 29 ngày 03/6/2022 và bản kết luận định giá tài sản số 33 ngày 06/6/2022 của Hô ̣i đồng đi ̣nh giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyê ̣n Phù Ninh kết luận: Giá trị của 03 (ba) con chim chào mào, loại chào mào mũ, má đỏ, giống đực, khoảng 2 năm tuổi, lông màu: đen – nâu – trắng, mào đinh, còn sống, chưa tham gia các cuộc thi chào mào hót tại thời điểm tháng 5/2022 là 3.000.000đ (Ba triệu đồng); Giá trị 03 (ba) chiếc lồng chim, bằng gỗ xoan, đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 5/2022 là 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 3.450.000đ (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại cơ quan điều tra Đào Quang Hợp, Nguyễn Đan Trường, Nguyễn Ngọc Tuấn, Trần Đức Hậu và Lâm Nguyễn Ngọc Đăng đã khai nhận hành vi vi phạm như đã nêu trên. Đào Quang Hợp đã tự nguyện nộp lại số tiền 300.000đ được Đăng chia sau khi bán được chim.

Quá trình điều tra Nguyễn Đan Trường, Đào Quang Hợp, Nguyễn Ngọc Tuấn, Trần Đức Hậu, đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật của bản thân như trên và phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ

Tại cáo trạng số 39/CT - VKSPN ngày 10/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đã truy tố Nguyễn Đan Trường về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 và tội “Chứa chấp, tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS 2015.

Truy tố Đào Quang Hợp, Nguyễn Ngọc Tuấn và Trần Đức Hậu về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015.

Tại Thông báo số 81/CV – VKSPN ngày 10/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh sửa chữa, bổ sung Cáo trạng số 39/CT – VKSPN ngày 10/10/2022 đã sửa chữa và đính chính lại tội danh đối với Nguyễn Đan Trường cụ thể: Truy tố Nguyễn Đan Trường về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phát biểu quan điểm luận tội, đại diện VKSND huyện Phù Ninh đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đan Trường phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chưa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tuyên bố các bị cáo Đào Quang Hợp, Trần Đức Hậu và Nguyễn Ngọc Tuấn đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 323, điểm i (đối với tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có), điểm s (đối với cả hai tội) khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 36 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Đan Trường từ 09 (Chính) tháng cải tạo không giam giữ đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Chưa chấp hoặc tiêu thụ tài tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 18 (Mười tám) đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 36, Điều 17, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Đào Quang Hợp từ 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt:

+ Bị cáo Trần Đức Hậu từ 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ đến 18 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

+ Bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn từ 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ đến 15 tháng (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Phú Nham, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Đề nghị miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Trường và đề nghị không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Hợp, Hậu và Tuấn.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trường và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Hợp, Hậu và Tuấn.

Các bị cáo phải có nghĩa vụ thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Giao các bị cáo cho UBND xã nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và áp dụng công việc lao động phục vụ cộng đồng đối với các bị cáo trong thời gian các bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự năm 2019. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận lại số chim bị trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết trách nhiệm dân sự.

Anh Nguyễn Tiến Tài không yêu cầu bị cáo Hợp và anh Lâm Nguyễn Ngọc Đăng phải hoàn trả số tiền 2.000.000 đồng nên không buộc các bị cáo phải hoàn trả số tiền này.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 08/05/2022 Lâm Nguyễn Ngọc Đăng, sinh ngày: 08/3/2007 trú tại thôn Đồng Thanh, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang cùng Đào Quang Hợp, sinh ngày: 11/8/2004 trú tại khu 5 xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ có hành vi trộm cắp 1 (một) con chim chào mào cùng lồng chim của gia đình anh anh Lê Anh Quang, sinh năm: 1990 trú tại khu 11, xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Sau khi biết tài sản do Đăng, Hợp trộm cắp mà có nhưng Nguyễn Đan Trường sinh 06/2/2004 trú tại khu 8, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ vẫn đồng ý cho cất dấu tại nhà của Trường.

Khoảng 1 giờ ngày 11/05/2022 Nguyễn Đan Trường, sinh ngày 06/2/2004 trú tại khu 8, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ cùng Đào Quang Hợp sinh ngày: 11/8/2004 trú tại khu 5 xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Ngọc Tuấn sinh 23/07/2005., trú tại Khu 3 xã Phú Nham, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Trần Đức Hậu sinh 27/09/2005 trú tại khu 2 xã Bảo Thanh huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Lâm Nguyễn Ngọc Đăng sinh 08/03/2007 trú tại thôn Đồng Thanh, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi trộm cắp 3 (ba) con chim chào mào cùng 3 (ba) lồng chim của gia đình anh Mè Quang Tùng, sinh năm: 1979 thuộc khu 3, xã Lệ Mỹ, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 3.450.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị cáo Nguyễn Đan Trường, Đào Quang Hợp, Trần Đức Hậu và Nguyễn Ngọc Tuấn đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để có tác dụng dăn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Nguyễn Đan Trường bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh truy tố về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa thì có căn cứ để xác định bị cáo Trường chỉ có hành vi chứa chấp tài sản do bị cáo Hợp và anh Lâm Nguyễn Ngọc Đăng trộm cắp vào ngày 08/5/2022. Đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh truy tố đối với bị cáo Trường là chưa đủ căn cứ do ngày 10/5/2022 bị cáo không tham gia vào việc giao dịch mua bán chim giữa anh Lâm Nguyễn Ngọc Đăng và anh Nguyễn Bảo Long và cũng không giúp sức cho Đăng trong việc bán chim cho anh Long. Việc bị cáo nhận 2.000.000 đồng từ anh Nguyễn Bảo Long chỉ là cầm hộ cho anh Đăng và ngay sau đó bị cáo đã chuyển số tiền này cho anh Đăng, bị cáo cũng không được hưởng lợi gì từ việc Đăng bán chim trộm cắp được cho anh Long. Hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có của bị cáo Trường không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn xâm phạm đến hoạt động của cơ quan tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Vì vậy, đối với hành vi này cần phải xử lý nghiêm khắc để đảm bảo việc giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Đan Trường, Đào Quang Hợp và Nguyễn Ngọc Tuấn đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trần Đức Hậu mặc được coi là chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây thương tích cho người khác và hiện chưa được xóa tiền sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Các bị cáo Trần Đức Hậu, Nguyễn Ngọc Tuấn lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Nguyễn Đan Trường được hưởng tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS đối với tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”, đối với tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ này.

Ngoài ra bị cáo Trường có ông nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng thiêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về các tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo Nguyễn Đan Trường, Trần Đức Hậu, Nguyễn Ngọc Tuấn không phải chịu tình tiết tặng nặng nào. Bị cáo Đào Quang Hợp phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Trong vụ án này bị cáo Hợp có vai tích cực nhất, cảe hai vụ trộm cắp tài sản bị cáo đều tham giam với vai trò là người cảnh giới giúp cho Lâm Nguyễn Ngọc Đăng và Nguyễn Ngọc Tuấn thực hiện hành vi trộm chim. Bị cáo Tuấn là người trực tiếp trèo tường vào nhà anh Mè Quang Tùng để trộm chim cùng Lầm Nguyễn Ngọc Đăng. Bị cáo Hậu giúp sức cho bị các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp chim và cảnh giới bên ngoài. Do đó, khi quyết định hình phạt HĐXX cần cân nhắc để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện tội phạm của từng bị cáo và cũng để đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa hình phạt.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác và xâm phạm đến hoạt động điều tra, truy tố của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm khắc trước pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực để nhận thực được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo Trường là người đã thành niên nên đủ năng lực và nhận thức để biết được việc cho người khác để tài sản trộm cắp được tại nhà của mình là hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có và là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Đối với các bị cáo Hợp, Hậu và Tuấn khi thực hiện hành vi phạm tộ chưa đủ 18 tuổi nên còn có những hạn chế về thể chất và tinh thần cũng như nhận thức về pháp luật. Do đó cần áp dụng nguyên tắc “xử lý đối với người đưới 18 tuổi phạm tội” đối với các bị cáo được quy định tại Điều 91 bộ luật hình sự 2015. Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà chỉ cần cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của gia đình và địa phương cũng đủ để các bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về khấu trừ một phần thu nhập: Bị cáo Nguyễn Đan Trường hiện nay các bị cáo đều không có việc làm, không có thu nhập thường xuyên, ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo. Các bị cáo Đào Quang Hợp, Trần Đức Hậu và Nguyễn Ngọc Tuấn khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ khoản 2 Điều 100 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Tuy nhiên, hiện nay các bị cáo đều là lao động tự do nên cần buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, đối với bị cáo Hậu, Hợp và Tuấn khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ khoản 8 Điều 91 BLHS, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đối với bị cáo Trường qua xác minh tài sản xác định hiện bị cáo không có tài sản gì riêng, hiện bị cáo đang sống cùng bố mẹ đẻ nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trường.

Về trách nhiệm dân sự: Đối số chim và số lồng chim mà các bị cáo trộm cắp của anh Lê Anh Quang và anh Mè Quang Tùng đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu. Anh Quang và anh Tùng không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.

Đố với số tiền 2.000.000 đồng mà Lâm Nguyễn Ngọc Đăng đã nhận từ anh Nguyễn Bảo Long: Đây là số tiền của anh Nguyễn Văn Tài trả tiền mua chim cho Lâm Nguyễn Ngọc Đăng. Quá trình điều tra anh Tài không yêu cầu anh Đăng và bị cáo Hợp phải trả lại. Xét thấy khoản tiền này là của anh Tài và anh Tài có quyền tự định đoạt đối với khoản tiền này. Việc anh Tài không yêu cầu anh Đăng và bị cáo Hợp phải trả số tiền này là sự tự nguyện của anh Tài và phù hợp với pháp luật nên cần chấp nhận và không buộc anh Đăng và bị cáo Hợp phải hoàn trả số tiền này cho anh Tài.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 300.000 đồng mà Lâm Nguyễn Ngọc Đăng cho bị cáo Hợp: Đây là số tiền trong tổng 2.000.000 đồng mà Đăng bán chim cho anh Tài. Nay anh Tài không yêu cầu phải hoàn lại nên không tịch thu số tiền này mà cần trả lại cho bị cáo Hợp.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: WAVE, màu sơn: đen – bạc, biển số : 19P1 – 361.57: Đây là chiếc xe máy của bà Phạm Thị Hiền - là mẹ đẻ bị cáo Trần Đức Hậu. Ngày 11/5/2022 bị cáo Hậu sử dụng chiếc xe máy này để cùng với các đối tượng khác đi trộm chim tại nhà anh Mè Quang Tùng, bà Hiền không biết. Tại phiên tòa hôm nay bà Hiền có quan điểm xin được nhận lại chiếc xe mô tô này. Do đó, cần trả lại cho bà Hiền là phù hợp.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: VISION, màu sơn: đen – trắng, đã qua sử dụng, 01 (một) biển số xe mô tô: 19P1 – 366.14: Đây là chiếc xe mô tô của ông Nguyễn Văn Bắc (bố đẻ bị cáo Trường), ông Bắc cho bị cáo Trường sử dụng để làm phương tiện đi lại, việc Trường cho Đăng mượn chiếc xe máy này Trường cũng không biết Đăng sẽ sử dụng để đi trộm chim. Tại phiên tòa hôm nay ông Bắc xin được nhận lại chiếc xe mô tô này nên cần trả lại cho ông Bắc là phù hợp.

Đối với Lâm Nguyễn Ngọc Đăng tham gia trộm cắp 02 (hai) vụ tại địa bàn huyện Phù Ninh với tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 8.250.000đ (Tám triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Tuy nhiên tại thời điểm phạm tội Lâm Nguyễn Ngọc Đăng chưa đủ 16 tuổi, do vậy Đăng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Phù Ninh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: ngày 08/9/2022 đối với Lâm Nguyễn Ngọc Đăng về hành vi trộm cắp tài sản tại khu 11, xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Đối với hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 11/5/2022 tại khu 3, xã Lệ Mỹ, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, Công an huyện Phù Ninh làm công văn đề nghị chủ tịch UBND xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định đưa Đăng vào quản lý, giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Nghị định 120/2021/NĐ – CP để giúp đỡ Đăng không vi phạm pháp luật xét thấy là phù hợp.

Đối với 02 (hai) chiếc điện thoại Trường và Đăng liên lạc bán chim cho anh Tài và anh Long khi đi chơi Trường và Đăng đã đánh rơi mất nên cơ quan điều tra không thu hồi được.

Đối với anh Nguyễn Tiến Tài và Nguyễn Bảo Long mua con chim chào mào của Lâm Nguyễn Ngọc Đăng nhưng không biết nguồn gốc của con chim chào mào do phạm tội mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm xét thấy là phù hợp.

Đối với ông Nguyễn Văn Bắc không giao xe mô tô cho Nguyễn Đan Trường sử dụng và bà Phạm Thị Hiền không giao xe mô tô cho Trần Đức Hậu sử dụng, ông Bắc và bà Hiền không biết về việc Trường và Hậu sử dụng xe mô tô đi trộm cắp. Ngoài ra ngày 08/5/2022, Trường cho Lâm Nguyễn Ngọc Đăng mượn xe mô tô để di không biết về việc Đăng sử dụng để đi trộm cắp do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh không đề cập xử lý là phù hợp

Tại phiên tòa, kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với các bị cáo, đề nghị HĐXX kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và cũng phù hợp với các quy định của pháp luật vì vậy được chấp nhận.

Quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo Hợp, Hậu và Tuấn: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo do tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên còn hạn chế về tinh thần và thể chất, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ để các bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân tốt.

Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Các Bị cáo, Người đại diện cho bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo, Người bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 323, điểm i (đối với tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có), điểm s (đối với tội Trộm cắp tài sản và tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có) khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 36 Bộ luật hình sự 2015:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đan Trường phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt: Nguyễn Đan Trường: 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là: 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Miễn khấu trừ một phần thu nhập và miễn áp sụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 36, Điều 17, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự 2015:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Quang Hợp phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử: Đào Quang Hợp: 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Miễn khấu trừ một phần thu nhập và không áp sụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức Hậu và bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:

+ Bị cáo Trần Đức Hậu: 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam tính từ ngày UBND xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

+ Bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn: 13 (Mười ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Phú Nham, huyện Phù Ninh nhận được bản sao Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Các bị cáo Nguyễn Đan Trường, Đào Quang Hợp, Nguyễn Đức Hậu và Nguyễn Ngọc Tuấn phải có nghĩa vụ thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Giao các bị cáo cho UBND xã nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và áp dụng công việc lao động phục vụ cộng đồng đối với các bị cáo trong thời gian các bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại điều 68, Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự năm 2019. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục đối với các bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết do người bị hại đã nhân lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường.

Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 3 điều 106; khoản 2 điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

* Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Đào Quang Hợp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khoản tiền này đang tạm giữ tại tài khỏan tạm giữ số 3949.0.1053892.00000 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Phù Ninh.

- Trả lại cho bà Phạm Thị Hiền: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: WAVE, màu sơn: đen – bạc, biển số : 19P1 – 361.57, xe không gương chiếu hậu, xe không có cần đạp nổ, xe đã qua sử dụng, trong cốp xe không có tài sản gì.

- Trả lại cho ông Nguyễn Văn Bắc 01 (một) xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VISION, màu sơn: đen – trắng, xe không có gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng, trong cốp xe không có tài sản gì và 01 (một) biển số xe mô tô: 19P1 – 366.14.

( Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/10/2022).

* Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo, Người đại diện cho Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Những Người bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ