vanban.org

Bản án 49/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mộng Cầm (tên gọi khác: Cảo) phạm tội “trộm cắp

Tổng hợp hình phạt: .......(....................) tù của Bản án xét xử ngày hôm nay (ngày Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mộng Cầm (tên gọi khác: Cảo) phạm tội “trộm cắp
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HS-ST
Ngày: 28/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hường.

2. Bà Mai Thị Huyền Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen –Thư ký Tòa án nhân dân Huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện N, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Muộn -Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường Tòa án Huyện N, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2022/HSST ngày 07/9/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2022/QĐXXST-HS ngày 16/9/2022 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Trọng Đ-sinh ngày: 22/11/2000; Nơi sinh: Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, Huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trường G và bà Hồ Thị N; Gia đình có 03 chị em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh 2014. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/3/2018, bị Công an phường Tấn Tài xử phạt vi phạm hành chính về hành vi uống rượu say gây rối trật tự công cộng, hình thức phạt tiền 375.000đ;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2022 tại Nhà tạm giữ Công an Huyện N-Ninh Thuận (có mặt tại phiên tòa).

-Ngƣời bị hại:

1. Anh Ngyễn Đức K -sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt),

2. Anh Nguyễn Ngọc P-sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt), Cùng trú tại: Thôn T, xã P, Huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

-Ngƣời làm chứng:

1.Ông Nguyễn Đ M-sinh 1957 (Chủ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Quang Trúc)

Trú tại: khu phố x, phường K, TP. P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có ý định trộm cắp tài sản từ trước nên trong khoảng thời gian từ ngày 04/02/2022 đến ngày 24/3/2022, Nguyễn Trọng Đ đã thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn Thôn T, xã P, Huyện Nnhư sau:

Vụ 1: Vào khoảng 20 giờ ngày 04/02/2022, Đ đột nhập vào nhà anh Ngyễn Đức K trộm cắp 01 điện thoại di động cảm ứng Iphone 6 và 01 máy tính bảng hiệu Huawe. Đ đem điện thoại bán 120.000 đồng, bán máy tính 600.000 đồng, cho một người đàn ông mua điện thoại dạo (không rõ địa chỉ) tại ngã tư Thuận Hòa-Phước Thuận-Ninh Phước.

Vụ 2: Vào khoảng 14 giờ ngày 12/02/2022, Đ đột nhập vào nhà anh Nguyễn Ngọc P trộm cắp 01 máy hàn điện màu cam; 01 máy tính bảng hiệu Apple và 01 Lư hương bằng đồng. Đ đem máy tính bán 200.000 đồng cho một người đàn ông (không biết họ tên địa chỉ) tại ngã từ Thuận Hòa-Phước Thuận; Đ nhờ Phan Đình S bán 01 Lư hương được 500.000 đồng, Đ đem máy hàn bán 100.000 đồng cho tiệm cầm đồ Quang Trúc.

Trong quá trình điều tra, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Ngoài lần lấy trộm tài sản ngày 04/02/2022 và ngày 12/02/2022, Đ còn lấy trộm 01 con heo đất, 01 điện thoại di động của bà Trịnh Thị Kim Phương vào ngày 24/3/2022. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách vụ trộm cắp nhà bà Phương để xử lý bằng 01 vụ án khác.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15/KLĐGTS-PTCKH ngày 04/5/2022; số 17/KLĐGTS-PTCKH ngày 10/5/2022 và công văn 31/HĐĐGTS ngày 15/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản kết luận giá trị tài bị chiếm đoạt: 01 điện thoại di động Iphone 6 là 700.000đ; 01 Máy tính bảng hiệu Huewei 1.050.000đ; 01 Máy hàn điện 2.362.500đ; 01 Máy tính bảng Ipad màu trắng 3.200.000đ; 02 chiếc chân đèn bằng đồng 3.000.000đ và 01 Lư hương bằng đồng 7.000.000đ.

Ông Nguyễn Đ M(chủ tiệm cầm đồ Quang Trúc) đã nhận cầm máy hàn của Đ, Phạm Đình S -người được Đ nhờ bán Lư hương. Ông Mẫn, anh Sơn không biết tài sản do Đ trộm cắp, nên hành vi của ông Mẫn, ông Sơn không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đối với 02 người đàn ông không rõ lai lịch đã mua 01 điện thoại di động; 02 máy tính của Đ, khi mua bán Đ không nói rõ nguồn gốc tài sản trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.

Anh Nguyễn Ngọc Pcho rằng, ngoài bị mất các tài sản trên, anh Phú còn mất 02 chân đèn bằng đồng nhưng anh Phú không xác định được thời gian mất. Đ không thừa nhận trộm cắp và Cơ quan điều tra cũng không chứng minh được Đ đã lấy trộm.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKS-HS ngày 06/9/2022 của Viện kiểm sát Huyện Ntruy tố bị cáo Nguyễn Trọng Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Huyện N vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ từ 09 đến 12 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đ bồi thường cho anh Ngyễn Đức K 1.750.000 đồng và bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc P12.562.000 đồng.

Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Trọng Đ nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:

Tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an Huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát Huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Trong khoảng thời gian từ ngày 04/02/2022 đến ngày 12/02/2022, lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu, Nguyễn Trọng Đ đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản trên địa bàn Thôn T, xã P gồm 01 điện thoại di động cảm ứng Iphone 6 và 01 máy tính bảng hiệu Huawe của anh Ngyễn Đức K trị giá 1.750.000đ; Đ lấy trộm 01 máy hàn điện; 01 máy tính bảng Ipad hiệu Apple và 01 Lư hương bằng đồng của anh Nguyễn Ngọc P trị giá 12.562.000đ, tổng giá trị tài sản Đ lấy trộm là 14.312.000đ.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, các bản cung, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX kết luận bị cáo Nguyễn Trọng Đ phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS như cáo trạng Viện kiểm sát Huyện Ntruy tố.

Bị cáo Đ nhận thức được hành vi Trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện chứng tỏ bị cáo cố ý phạm tội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do vậy phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm khắc trước pháp luật và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết.

Về nhân thân, tiền án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngày 25/3/2018, Nguyễn Trọng Đ bị Công an phường Tấn Tài xử phạt vi phạm hành chính về hành vi uống rượu say gây rối trật tự công cộng, hình thức phạt tiền 375.000 đồng và bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Căn cứ nhận định trên, xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát Huyện Nvề việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. HĐXX xét thấy là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.

Trách nhiệm dân sự: Anh Ngyễn Đức K yêu cầu bị cáo Đ bồi thường 1.750.000đ, anh Nguyễn Ngọc Pyêu cầu bị cáo Đ bồi thường 12.562.000đ. Xét yêu cầu bồi thường của các bị hại là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo Đ đồng ý bồi thường số tiền trên theo yêu cầu của người bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người bị hại.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng Đ phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại-được quyền kháng cáo theo pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng Đ phạm tội “trộm cắp tài sản”.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng Đ 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 28/6/2022).

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357, Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc Psố tiền 12.562.000đ (Mười hai triệu, năm trăm sáu mươi hai ngàn đồng). Và phải bồi thường cho anh Ngyễn Đức K số tiền 1.750.000đ (một triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc Nguyễn Trọng Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 715.000đ (Bảy trăm mười lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Ninh Thuận;

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Ninh Thuận;

- Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;

- VKSND Huyện N;

- Công an huyện Ninh Hải;

- Chi cục THADS Huyện N;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu (hồ sơ, án văn)./.

Dƣơng Thị Xuân Thủy TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN N

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH NINH THUẬN

Ninh Phước, ngày 28 tháng 9 năm 2022

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N- TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm Nhân dân: bà Lê Thị Hường và bà Mai Thị Huyền Trang.

Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Vào hồi giờ phút, ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại phòng nghị án.

Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2022/HSST ngày 07/9/2022 đối với bị cáo Nguyễn Trọng Đ về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo;

Hội đồng xét xử (HĐXX) thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau

1. Về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo:

HĐXX thống nhất ý kiến đồng ý quan điểm của Viện kiểm sát Huyện Ntruy tố bị cáo Nguyễn Trọng Đ phạm tội “trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng Đ 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 28/6/2022).

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357, Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc Psố tiền 12.562.000đ (Mười hai triệu, năm trăm sáu mươi hai ngàn đồng). Và phải bồi thường cho anh Ngyễn Đức K số tiền 1.750.000đ (một triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về án phí:

HĐXX thống nhất: Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc Nguyễn Trọng Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 715.000đ (Bảy trăm mười lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại vắng mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

5. Về Quyết định tạm giam:

HĐXX thống nhất áp dụng Điều 329 Bộ luật hình sự;

Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Trọng Đ 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2022), để đảm bảo cho việc Thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN N

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH NINH THUẬN Số: 18/2022/HSST-QĐTG

Ninh Phước, ngày 22 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và ông Hán Văn Mai.

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 22/4/2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Tạm giam bị cáo Quảng Đại Anh Gô - sinh ngày 10/6/2005.

Nơi sinh: tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Thôn Hiếu Lễ, xã Phước Hậu, Huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Nghề nghiệp: không.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 18 (mười tám) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

Theo điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 54, Điều 58; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (22/4/2022).

Điều 2

Nhà tạm giữ Công an Huyện N, tỉnh Ninh Thuận có trách nhiệm thi hành Quyết

định này. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Nhà tạm giữ CA Huyện N;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Huyện N;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án./.

Dƣơng Thị Xuân Thủy TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN N

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH NINH THUẬN Số: 19/2022/HSST-QĐTG

Ninh Phước, ngày 22 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và ông Hán Văn Mai.

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 22/4/2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Tạm giam bị cáo Phú Văn Hi - sinh năm 1999.

Nơi sinh: tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Thôn Chất Thường, xã Phước Hậu, Huyện N, Ninh Thuận.

Nghề nghiệp: không.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 12 (mười hai) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

Theo khoản 1 Điều 173; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (22/4/2022).

Điều 2

Nhà tạm giữ Công an Huyện N, tỉnh Ninh Thuận có trách nhiệm thi hành Quyết

định này. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Nhà tạm giữ CA Huyện N;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Huyện N;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án./.

Dƣơng Thị Xuân Thủy

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dƣơng Thị Xuân Thủy

Cỡ chữ