- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Sỹ P phải …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2022/HS-ST Ngày 25 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Huế.
Bà Phạm Thị Kim Quy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2022/TLST-HS, ngày 06 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2022/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Bùi Sỹ P, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1979 tại huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Khối NQ, thị trấn NĐ, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Sỹ H (đã chết) và bà Nguyễn Thị X (đã chết); họ và tên vợ: Trương Thị T (đã ly hôn); có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/9/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử 24 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/01/2011 và án phí; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2022 đến nay Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1996; nơi ĐKHKTT: Xóm X, xã NP, huyện NL, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Khối NQ, thị trấn NĐ, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/6/2022, Bùi Sỹ P đi qua nhà chị Nguyễn Thị M tại khối NQ, thị trấn NĐ, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thì thấy chị M và một số người khác đang sắp xếp đồ đạc trong nhà. Bùi Sỹ P đi vòng qua nhà chị M thì phát hiện 01 điện thoại Iphone X màu trắng của chị M để cạnh cửa sổ nên P nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này, Bùi Sỹ P tiến lại gần cửa sổ và lấy trộm chiếc điện thoại trên rồi bỏ vào túi quần và tiếp tục đi ra vườn phía sau để hái chuối. Sau đó, Bùi Sỹ P mang theo chiếc điện thoại trộm cắp được đi về nhà.
Tại Bản kết luận định giá số 10 ngày 12/6/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện Nam Đàn kết luận: “01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu trắng, được mua từ tháng 10/2021, thời điểm đến ngày 08/6/2022 có giá trị 5.000.000 đồng”.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKSNĐ, ngày 06/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Bùi Sỹ P về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Bị cáo Bùi Sỹ P phạm tội "Trộm cắp tài sản". Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Bùi Sỹ P mức án từ 06 đến 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2022. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, bị cáo ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại chị Nguyễn Thị M vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Sỹ P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình giống như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 08/6/2022, tại khối NQ, thị trấn NĐ, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Bùi Sỹ P đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu trắng của chị Nguyễn Thị M trị giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Hành vi của Bùi Sỹ P đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 52/CT-VKSNĐ, ngày 06/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
. Về hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tự nguyện giao nộp tài sản chiếm đoạt để khắc phục hậu quả; bố của bị cáo là ông Bùi Sỹ H có công với cách mạng được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo như mức án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng gì nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị M đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc điện thoại di động IPHONE X màu trắng là tài sản của chị Nguyễn Thị M bị trộm cắp. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Sỹ P 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 6 năm 2022.
Về án phí: Áp dụng Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Sỹ P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - Bị hại; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THAHS Công an huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Lài |