vanban.org

Bản án 49/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 13/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

[2] Về hình phạt: Bị cáo Đặng Văn T 39 (Ba mươi chín) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giam 05/10/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đặng Văn T phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC THỌ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HSST
Ngày: 13/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Bùi Đình Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Luận và bà Phạm Thị Hồng Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà: Đậu Thị Hiền Trang - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Đặng Văn T, Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/12/1999; Trú tại: Xóm 7, xã NK, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông: Đặng Kim L (Đã chết), con bà: Võ Thị P; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 06/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 18 tháng; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/10/2022 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt tại điểm cầu trại tạm giam.

* Người bị hại: Chị Bạch Thị T; sinh năm: 1990; trú tại: Thôn VX, xã LTT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do, (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hoàng Việt C; sinh năm: 1985; trú tại: Xóm TH, xã TPC, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).

2. Chị Võ Thị P; sinh năm: 1979; trú tại: Xóm 7, xã NK, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An, nghề nghiệp: Lao động tự do, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 04/10/2022, Đặng Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave an pha, sơn màu trắng đen, biển kiểm soát 37M1-948.90 đi từ nhà mình ở xóm 7, xã NK, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An sang huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh để chơi. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đang đi trên đường Quốc lộ 15A theo hướng từ xã TA, huyện ĐT đến xã TS, huyện ĐT, T nhìn thấy chị Bạch Thị T (sinh năm 1990, trú tại thôn VX, xã LTT, huyện ĐT) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha, sơn màu đỏ, biển kiểm soát 38H5-7201 đi cùng chiều phía trước, đang vừa điều khiển xe mô tô vừa sử dụng điện thoại di động, nên T nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại của chị Bạch Thị T. Lúc này, T dừng xe mô tô bên lề đường, sử dụng chiếc khẩu trang mang theo sẵn che biển kiểm soát xe mô tô, rồi tiếp tục điều khiển xe đuổi theo xe của chị T. Khi đi đến gần khu vực ngã ba thuộc thôn NT, xã TS, huyện ĐT, T điều khiển xe mô tô áp sát vào bên trái xe mô tô của chị T, dùng tay giật lấy chiếc điện thoại trên tay của chị T, rồi điều khiển xe bỏ chạy theo đường Quốc lộ 15A về hướng xã NK, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Khi đi được khoảng 200m, phát hiện không có người đuổi theo, nên T điều khiển xe mô tô đi về nhà mình. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T đi đến cửa hàng điện thoại CL của anh Hoàng Việt C ở xóm TH, xã TPC, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An, bán chiếc điện thoại cướp giật được với giá 2.000.000 đồng. Số tiền bán chiếc điện thoại, T đã tiêu xài cá nhân hết. Còn chị T, sau khi bị cướp giật tài sản, đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Đến 21 giờ cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ triệu tập T đến làm việc thì T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 39/KLĐG-HĐĐGTS ngày 05/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đức Thọ, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21S, màu xanh nước biển, số Imel 1 861128057128339, số Imel 2 861128057128321 trị giá 3.300.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng:

01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha, sơn màu trắng đen, biển kiểm soát 37M1-948.90, số máy JA39E2549013, số khung BLHJA392XNY052039; 01 chiếc mũ lưỡi trai màu trắng, có dòng chữ Adidas; 01 chiếc áo khoác nắng có mũ, kẻ sọc ô vuông, màu xanh đen trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21S, màu xanh nước biển, số Imel 1 861128057128339, số Imel 2 861128057128321.

Quá trình điều tra xác định được, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha, sơn màu trắng đen, biển kiểm soát 37M1-948.90 là của chị Võ Thị P, trú tại xóm 7, xã NK, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An (là mẹ bị cáo); chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21S, màu xanh nước biển là của chị Bạch Thị T, nên Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu.

Đối với chiếc sim số 0982.642.830 của chị T, T đã vứt bên bờ ruộng thuộc xóm 7, xã NK, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An, Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ đã truy tìm nhưng không thu giữ được.

Các vật chứng khác đã thu giữ nói trên, hiện chưa được xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, người bị hại chị Bạch Thị T không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Còn anh Hoàng Việt C yêu cầu bồi thường số tiền 2.000.000 đồng và đã được chị Võ Thị P, trú tại xóm 7, xã NK, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An (là mẹ của Đặng Văn T) bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số: 54/CT-VKS-ĐT ngày 23 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Đặng Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Đặng Văn T mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đề nghị xử lý về vật chứng, tuyên về án phí.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt cũng không có ý kiến gì tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ, tỉnh Hà tĩnh; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận về hành vi, cách thức thực hiện tội phạm của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận trong quá trình hỏi cung đều được tự nguyện khai báo, không bị bức cung, mớm cung hay nhục hình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, các lời khai và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 16 giờ ngày 04/10/2022, tại đường Quốc lộ 15A thuộc địa phận thôn NT, xã TS, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh, Đặng Văn T đã có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha, sơn màu trắng đen, biển kiểm soát 37M1-948.90 cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21S, màu xanh nước biển, trị giá 3.300.000 đồng của chị Bạch Thị T, trú tại thôn VX, xã LTT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh, khi chị T đang điều khiển xe mô tô đi cùng chiều.

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo Đặng Văn T dùng xe mô tô, ép sát giật lấy điện thoại của chị Bạch Thị T đang chạy xe cùng chiều là rất nguy hiểm có thể làm cho bị hại bị ngã, bị tai nạn nên bị cáo bị truy tố theo điểm d khoản 2 điều 171 về tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng là dùng thủ đoạn nguy hiểm là đúng. Vì vậy, việc Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không oan sai. Bản cáo trạng số 54/CT-VKS-ĐT ngày 23 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn chính xác. Tại phiên tòa lời luận tội của Viện kiểm sát đã đánh giá đầy đủ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề khác về cơ bản là phù hợp.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự trên các địa bàn, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, về nhân thân bị cáo cũng đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng, bị phạt tù. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và ngăn chặn, phòng ngừa chung.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, trong quá trình điều tra người bị hại có đơn và tại phiên tòa cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo cũng đã bồi thường số tiền 2 triệu đồng cho người liên quan, bị cáo tuổi đời còn trẻ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mất sớm. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về phần dân sự: Không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xữ miễn xét.

Về vật chứng vụ án: Một số vật chứng mà cơ quan điều tra thu giữ, sau khi làm rõ, định giá cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên miễn xét. Các vật chứng còn lại gồm 01 chiếc mũ lưỡi trai màu trắng; 01 chiếc áo khoác nắng không có giá trị sử dụng, cần áp dụng các quy định của pháp luật, tịch thu, tiêu hủy.

Tình trạng vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và chi cục thi hành án dân sự huyện Đức thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

[2] Về hình phạt:

Áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt:

Bị cáo Đặng Văn T 39 (Ba mươi chín) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giam 05/10/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.

[3] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo khoác nắng và 01 chiếc mũ lưỡi trai màu trắng không còn giá trị sử dụng.

Tình trạng, đặc điểm cụ thể của vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2022 giữa Cơ quan điều tra và chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

[4] Về án phí: Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ