- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn X - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2022/HS-ST Ngày: 23-9-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Rỏn.
Ông Dương Tấn Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Văn X - Sinh năm 1996; tại: tỉnh Long An; Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 15-10-2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ ra Quyết định số 07/2019/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 14-9-2021 chấp hành xong. Về nhân thân: Ngày 25-4-2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đức Huệ ra Quyết định số 2115/QĐ-UBND đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản - chấp hành xong ngày 02-5-2015; Ngày 10-5-2016, Công an xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản mức phạt 1.500.000 đồng - chấp hành xong vào ngày 16-5-2016; Ngày 16-9-2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” - ngày 26-4-2017 chấp hành xong (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-4-2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Huệ. (có mặt)
- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1970 - Địa chỉ: ấp K, xã L, huyện C, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 03-4-2022 bị cáo X mượn xe mô tô đi chơi, khi điều khiển xe đến nhà (chòi) tại vườn chanh, thuộc ấp 3, xã Mỹ Bình, huyện Đức Huệ, nhà đóng cửa không có người trong coi nên X nảy sinh ý định lấy trộm tài sản, X ra phía sau đi vào bên trong phát hiện trên giường có túi xách, X mở ra xem thì thấy bên trong có 200.000 đồng và một túi xách nhỏ bằng vải, màu nâu có điện thoại và tiền Việt Nam. X lấy rồi lên xe tẩu thoát. Khi X chạy xe đến cầu Đức Huệ dừng lại kiểm tra tài sản vừa trộm được gồm: 9.700.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, 01 giấy cầm đồ, 02 thẻ Agribank tên Nguyễn Thị T và Phạm Hoàng Trúc P, 01 chứng minh nhân dân tên Phạm Văn T, 01 căn cước công dân tên Nguyễn Thị T. X dùng tiền lấy trộm đến thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa mua ma túy 2.000.000 đồng, đổ xăng và tiêu xài cá nhân hết 700.000 đồng. Số tiền còn lại và các đồ vật nêu trên X đem về nhà tại ấp A, xã B, huyện C để cất giấu. Qua quá trình điều tra, X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tang vật thu giữ:
Tiền Việt Nam 7.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng; 01 giấy cầm đồ; 01 căn cước công dân tên Nguyễn Thị T; 01 chứng minh nhân dân tên Phạm Văn D; 01 thẻ Agribank tên Phạm Hoàng Trúc P và 01 thẻ Agribank tên Nguyễn Thị T; 01 túi xách màu nâu; 01 giấy cầm đồ.
Một áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần thể thao màu đen sọc xanh.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/ KL-TCKH ngày 07-4-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Huệ xác định tại thời điểm định giá 01 điện thoại di động nói trên có giá trị 1.000.000 đồng.
Xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp tiền Việt Nam 7.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng; 01 giấy cầm đồ; 01 căn cước công dân tên Nguyễn Thị T; 01 chứng minh nhân dân tên Phạm Văn D; 01 thẻ Agribank tên Phạm Hoàng Trúc P và 01 thẻ Agribank tên Nguyễn Thị T; 01 túi xách màu nâu; 01 giấy cầm đồ.
Bản Cáo trạng số 36/CT-VKSĐH ngày 11 tháng 7 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Lê Văn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn X từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù, về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp đề nghị xem xét giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo X tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu, chứng cứ, lời khai của người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận định giá tài sản, có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 03-4-2022, bị cáo Lê Văn X đã lén lút lấy trộm 9.700.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, 01 giấy cầm đồ, 02 thẻ Agribank tên Nguyễn Thị T và Phạm Hoàng Trúc P, 01 chứng minh nhân dân tên Phạm Văn D, 01 căn cước công dân tên Nguyễn Thị T của bà Nguyễn Thị T. Giá trị điện thoại di động là 1.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ truy tố đối với bị cáo X là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo X là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo cố tình thực hiện. Sau khi phát hiện có tài sản, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về nhân thân: bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 15-10-2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ ra Quyết định số 07/2019/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 14/9/2021 chấp hành xong. Ngày 25-4-2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đức Huệ ra Quyết định số 2115/QĐ-UBND đưa vào trường giao dưỡng, thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 02-5-2015; Ngày 10-5-2016, Công an xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản với mức phạt 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong; Ngày 16-9-2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong (đã được xóa án tích).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
Các biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần thể thao màu đen sọc xanh.
(Tang vật do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ quản lý).
Về trách nhiệm dân sự: Bà T nhận lại tài sản và tiền 2.700.000 đồng bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Lê Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
3. Xử phạt bị cáo Lê Văn X 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05-4-2022). Tiếp tục tạm giam bị cáo X 45 ngày để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
4. Biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần thể thao màu đen sọc xanh.
(Tang vật do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn X phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 23-9-2022). Người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Huệ; - Công an huyện Đức Huệ; - CC.THADS huyện Đức Huệ; - Bị cáo; Bị hại; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Gái |