- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn anh K chị T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Đoàn Hùng K được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2022/HNGĐ-ST Ngày 16/8/2022 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phan Đắc Tuấn.
+ Ông Lê Như Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số 11 Tôn Đức Thắng, thành phố Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 04 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 8 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đoàn Hùng K, sinh năm 1993; trú tại: 2/9 đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993; trú tại: 3110 S , West Valley City, Ut 84128, USA. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì anh Đoàn Hùng Khanh trình bày như sau:
Anh Đoàn Hùng K và chị Nguyễn Thị T quen biết nhau do người thân giới thiệu từ năm 2019. Năm 2020, chị T về Việt Nam, chị T và anh K quyết định đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 10/02/2020. Sau khi kết hôn, chị T sống tại Việt Nam 02 tháng, tại nhà của anh K. Vì lý do công việc nên chị T quay trở về Hoa Kỳ. Kể từ thời gian chị T trở về Hoa Kỳ đến nay, do khoảng cách địa lý, vợ chồng ít khi liên lạc với nhau, không có thời gian quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm vợ chồng phai nhạt nên anh K có nguyện vọng xin được ly hôn với chị T để cả hai ổn định cuộc sống.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh K khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu chị T trả lời một số vấn đề cần thiết liên quan đến việc anh K xin ly hôn với chị. Ngày 08/8/2022 Tòa án nhận được thư trả lời của chị T có xác nhận của Công chứng viên bang Utah, Hoa Kỳ với nội dung: Chị đã nhận được các giấy tờ do Tòa án gửi cho chị và chị đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh K. Chị và anh K không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bận công viêc, chị không thu xếp về Việt Nam để tham gia tố tụng được nên chị đề nghị Tòa án xét xử ly hôn vắng mặt chị.
Về kiểm sát tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có ý kiến như sau: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, không có vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, cho anh Đoàn Hùng K được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và qua thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T định cư tại Hoa Kỳ, có đơn xin xét xử vắng mặt, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã thể hiện được ý chí của chị T về việc giải quyết vụ án. Anh K có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận để xét xử vắng mặt chị T và anh K theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đoàn Hùng K và chị Nguyễn Thị T kết hôn tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn hai bên sống chung một thời gian thì chị T trở về Hoa Kỳ. Do vợ chồng sống xa nhau, không có điều kiện gần gũi, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm giữa họ không còn. Xét hiện nay anh K và chị T mỗi người sống một nơi, khả năng vợ chồng hàn gắn tình cảm để đoàn tụ là không thể thực hiện được, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Nguyễn Thị T đã có văn bản gửi cho Tòa án về việc đồng ý ly hôn với anh K. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận cho anh Đoàn Hùng K được ly hôn với chị Nguyễn Thị T là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Đoàn Hùng K đều khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh K phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Đoàn Hùng K được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Đoàn Hùng K đều khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
3. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Đoàn Hùng K phải chịu 300.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Biên lai số: 0000081 ngày 07/04/2022 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế).
Anh Đoàn Hùng K có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh TT Huế; - Cục THADS tỉnh TT Huế; - Các đương sự; - Lưu:HSVA, Tòa DS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |