- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị NQ"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14-7-2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Bình.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Thanh và Bà Phan Thị Thắng.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lương Thị Tâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh BT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 54/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2022; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số: 23/2022/TB-TA ngày 27 tháng 6 năm 2022; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị NQ, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn 08, xã G, huyện TL, tỉnh BT;
2. Bị đơn: Anh Lê Trung D, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn 08, xã G, huyện TL, tỉnh BT;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Cháu Lê Thị TM, sinh ngày 23/8/2010; Nơi cư trú: Thôn 08, xã G, huyện TL, tỉnh BT;
3.2 Cháu Lê Tiến P, sinh ngày 01/3/2013; Nơi cư trú: Thôn 08, xã G, huyện TL, tỉnh BT;
Tại phiên tòa vắng mặt chị Lê Thị NQ (có đơn xin xét xử vắng mặt); Vắng mặt anh Lê Trung D; cháu Lê Thị TM, cháu Lê Tiến P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị NQ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Trước đây chị Lê Thị NQ và anh Lê Trung D đã được Tòa án giải quyết ly hôn vào năm 2017, sau đó vợ chồng quay về chung sống và đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện TL vào ngày 02/5/2018. Thời gian đầu quay lại chung sống, hai vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm lối sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày cũng như chăm sóc các con, làm ăn phát triển kinh tế gia đình, mâu thuẫn hai vợ chồng thường xuyên trầm trọng, kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Q và anh D đã sống ly thân với nhau. Hiện nay chị Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh D.
- Về con chung: Chị Lê Thị NQ và anh Lê Trung D có 02 người con chung tên Lê Thị TM, sinh ngày 23/8/2010 và Lê Tiến P, sinh ngày 01/3/2013. Hiện nay các con đang chung sống cùng chị Quý. Chị Q đề nghị Tòa án giải quyết giao 02 người con chung cho chị Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Chị Q yêu cầu anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng cho chị Q 6.000.000đồng/02 con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q xác định là vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần yêu cầu anh D phải có mặt tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh BT để trình bày ý kiến, trình bày lời khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng anh D cố tình trốn tránh, không có mặt theo giấy triệu tập. Tòa án không thực hiện được việc lấy lời khai của bị đơn.
Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cháu Lê Thị TM, cháu Lê Tiến P trình bày:
Cháu tên Lê Thị TM, Lê Tiến P hiện nay ba mẹ cháu đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện TL, cháu M, cháu P có nguyện vọng được chung sống cùng với mẹ vì mẹ là người yêu thương, chăm sóc cháu M, cháu P nhiều hơn.
Tòa án đã mở phiên hòa giải vào ngày 28/4/2022 để các đương sự hòa giải đoàn tụ với nhau; Tại phiên hòa giải vắng mặt anh D nên không thể tiến hành hòa giải được, sau đó chị Q đã có đơn từ chối hòa giải, đề nghị xét xử vụ án.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh BT phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
- Về con chung: Đề nghị Tòa án giao cháu Lê Thị TM, sinh ngày 23/8/2010 và Lê Tiến P, sinh ngày 01/3/2013 cho chị Q được quyền nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; Anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Q mỗi tháng số tiền 1.500.000 đồng/01 con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị NQ yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng; Các đương sự đều không có yêu cầu nào khác; Vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, không cần phải ủy thác tư pháp; Bị đơn có nơi cư trú tại: Thôn 08, xã G, huyện TL, tỉnh BT nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh BT theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt, đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn có đơn xin từ chối hòa giải nên theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu độc lập được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa; Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị NQ và anh Lê Trung D đã được Tòa án giải quyết ly hôn vào năm 2017 nhưng sau đó vợ chồng quay về chung sống cùng nhau và đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện TL vào ngày 02/5/2018 nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Mặc dù chị Q và anh D đã có thời gian quay về chung sống, yêu thương nhau, việc kết hôn là tự nguyện nhưng sau đó hai bên phát sinh mâu thuẫn, đến nay chị Q yêu cầu ly hôn. Do đó yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Q là phù hợp pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
3.2 Về con chung: Chị Q và anh D có 02 người con chung tên Lê Thị TM, sinh ngày 23/8/2010 và Lê Tiến P, sinh ngày 01/3/2013; Chị Q đề nghị Tòa án giải quyết giao 02 người con chung cho chị Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Chị Q yêu cầu anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Q hàng tháng 6.000.000đồng/02 người con. Hiện nay cháu M, cháu P đang sống cùng chị Q, cháu M, cháu P có nguyện vọng được chung sống cùng chị Q nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho chị Q nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con cho đến khi đủ 18 tuổi.
3.2.1 Về yêu cầu cấp dưỡng: Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Q là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy cần buộc anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng cho chị Q.
3.2.2 Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Xét yêu cầu cấp dưỡng của chị Q là cao hơn so với nhu cầu thiết yếu của cháu Lê Thị TM và Lê Tiến P, mặt khác mức thu nhập thực tế của anh D cũng không xác định được; Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên buộc anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Q mỗi tháng số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng)/02 con là phù hợp với Điều 110 và 116 Luật hôn nhân và gia đình.
3.2.3 Thời hạn cấp dưỡng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án dân sự cần tuyên buộc anh Lê Trung D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Lê Thị NQ kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/7/2022) cho đến khi cháu Lê Thị TM và cháu Lê Tiến P đủ 18 tuổi hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
3.3 Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84, Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008;
- Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị NQ; Chị Lê Thị NQ được ly hôn với anh Lê Trung D.
2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị NQ được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 người con chung tên Lê Thị TM, sinh ngày 23/8/2010 và Lê Tiến P, sinh ngày 01/3/2013 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
2.1 Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Buộc anh Lê Trung D phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Lê Thị NQ mỗi tháng số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng)/02 con.
2.2 Thời hạn cấp dưỡng: Anh Lê Trung D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Lê Thị NQ kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/7/2022) cho đến khi cháu Lê Thị TM và cháu Lê Tiến P đủ 18 tuổi hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không được trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con, yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí:
- Chị Lê Thị NQ phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007730 ngày 21/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TL. Chị Lê Thị NQ đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Anh Lê Trung D phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự; Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BT; - VKSND tỉnh BT; - VKSND huyện TL; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện TL; - UBND xã G, huyện TL, tỉnh BT (thay thông báo); - Lưu: VP, án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Bình |