- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyễn Thị H xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| P TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 49/2022/HNGĐ-ST Ngày: 12/8/2022 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nghệ
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tùng và bà Hồ Thị Huệ
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 94/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2001. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ Trọng B, sinh năm 1995. Vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/3/2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Trọng B đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Nghệ An vào ngày 04/9/2019, kết hôn có sự tìm hiểu tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh B không quan tâm đến gia đình, nóng tính, nhiều lần đánh đập và xúc phạm chị. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục, chị xin ly hôn anh Hồ Trọng B.
Vợ chồng có 01 con chung là Hồ Thị Thanh P, sinh ngày 01/7/2020. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn, thông báo kết quả phiên họp nhưng bị đơn anh Hồ Trọng B do bận đi làm ăn ở miền Nam nên vắng mặt.
Kết quả xác minh bà Hồ Thị T (mẹ đẻ anh B) trình bày: Mâu thuẫn giữa chị H và anh B là do chị H không lo chuyện cơm nước trong gia đình, nhiều lần tự ý bỏ nhà đi dẫn đến vợ chồng cãi vã lẫn nhau. Qua liên lạc anh B cũng đồng ý ly hôn như nguyện vọng của chị H. Về con chung, vợ chồng có 01 con chung là Hồ Thị Thanh P, sinh ngày 01/7/2020. Ly hôn anh B đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết Tòa án tống đạt đơn khởi kiện và các tài liệu, thông báo thụ lý, thông báo phiên họp, thông báo hoãn và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, bà trực tiếp nhận và thông báo cho anh B biết việc chị H xin ly hôn, quyền nuôi con chung và tài sản nhưng anh B đang đi làm ăn xa không về được, anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Kết quả xác minh tại UBND xã V, huyện Q, tỉnh Nghệ An: Anh Hồ Trọng B có hộ khẩu thường trú tại Thôn A, xã V. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như thế nào địa phương không nắm được do không qua hòa giải tại cơ sở. Nay chị H xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản. Hiện con chung Hồ Thị Thanh P còn nhỏ, cần nhiều hơn sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, đề nghị Tòa án giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền và lợi ích cho trẻ em.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ các quy định của BLTTDS . Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự: Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016; chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H, đề nghị tuyên xử:
Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hồ Trọng B.
Về con chung: Giao con chung là Hồ Thị Thanh P, sinh ngày 01/7/2020 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh B vì chị H chưa yêu cầu.
Về tài sản: Không ai yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Hồ Trọng B, có nguyện vọng nuôi con chung, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Hồ Trọng B có hộ khẩu thường trú tại Thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp, cùng các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Trọng B là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống do tính cách, lối sống không hòa hợp nên vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết Tòa án đã thông báo anh B đến để hòa giải nhằm hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng anh đều vắng mặt. Qua trình bày của chị H, kết quả xác minh từ người thân của anh B cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh B đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hồ Trọng B.
Về con chung: Nguyện vọng xin được nuôi con của chị H là chính đáng. Từ khi ly thân cho đến nay con chung do chị H trực tiếp nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt, hiện nay cháu Hồ Thị Thanh P, sinh ngày 01/7/2020 còn nhỏ, cần nhiều hơn sự chăm sóc của người mẹ. Anh B cũng đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận nguyện vọng của chị H là được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị H chưa yêu cầu anh B đóng góp cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
Về tài sản: Không ai yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hồ Trọng B.
2. Về con chung: Giao con chung là Hồ Thị Thanh P, sinh ngày 01/7/2020 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh B vì chị H chưa yêu cầu.
Anh B có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Không ai yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên lai số 0007712 ngày 23/3/2022.
5. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thảo thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu; - UBND xã V (ĐKKH năm 2019); - Đương sự; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nghệ |