vanban.org

Bản án 49/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị Tăng Cẩm T và anh Lâm Văn Út L là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Giao cháu Lâm Cẩm Linh, sinh ngày 28/9/2009 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Út Lớn không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Tăng Cẩm T và anh Lâm Văn Út L là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30-6-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Khánh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Út Lùng;

Ông Lê Quang Đầy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 158/2022/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2022 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tăng Cẩm T, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh C .

- Bị đơn: Anh Lâm Văn Út L, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh C .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 07/6/2022 và bản tự khai ngày 14/6/2022, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Tăng Cẩm T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lâm Văn Út L kết hôn từ năm 2008, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ thành hôn theo phong tục địa phương nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn. Khi thành hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường hay cự cãi với nhau anh L cũng hay đánh đập chị nhiều lần nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân ngày càng không hạnh phúc. Hiện nay chị và anh Út Lớn sống ly thân gần 01 năm nay. Do đó, chị T yêu cầu được xin ly hôn với anh Lâm Văn Út L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lâm Cẩm Linh, sinh ngày 28/9/2009. Khi ly hôn con theo ai người đó nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

Tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 14/6/2022, bị đơn – anh Lâm Văn Út L trình bày:

Về hôn nhân: Theo lời trình bày của chị T về thời gian kết hôn là đúng. Trong khoảng thời gian vợ chồng chung sống với nhau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm mọi mặt trong cuộc sống, dẫn đến không hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay nhưng không có cách hàn gắn hôn nhân. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh Út Lớn đồng ý ly hôn vì duy trì cũng không hạnh phúc.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lâm Cẩm Linh, sinh ngày 28/9/2009. Khi ly hôn con theo ai người đó nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Không đặt ra.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị T yêu cầu ly hôn với anh Út Lớn, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Chị T và anh Út Lớn có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ

-2-

án không tiến hành hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh chị là đúng quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Út Lớn tự nguyện kết hôn năm 2008 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, chị T cho rằng phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cự cải, bất đồng trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn, nên chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Út Lớn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên tình nghĩa vợ chồng, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và chung sống với nhau nhưng từ năm 2021 đến nay chị T và anh Út Lớn không còn chung sống với nhau. Tuy nhiên hôn nhân giữa chị T và anh Út Lớn mặt dù sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên căn cứ khoản 1 Điều 9 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa chị T với anh Út Lớn không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lâm Cẩm Linh, sinh ngày 28/9/2009. Sau khi ly hôn chị T và anh Út Lớn tôn trọng nguyện vọng của con, con theo ai thì người đó nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra. Tại đơn xin đề xuất nguyện vọng cháu Cẩm Linh có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Lâm Cẩm Linh, sinh ngày 28/9/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Anh Út Lớn không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị T và anh Út Lớn không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: chị T và anh Út Lớn không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-3-

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Tăng Cẩm T và anh Lâm Văn Út L là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lâm Cẩm Linh, sinh ngày 28/9/2009 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Út Lớn không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

4. Án phí hôn nhân gia đình chị T phải chịu 300.000 đồng, chị T đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0015586 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn nay được chuyển thu, chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án, vắng mặt tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ