vanban.org

Bản án 49/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Bùi Văn H, sinh ngày 16/10/2004. Giao cháu H cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản, công nợ chung: K… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh D xin LH chị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM THUỶ
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/7/2022.
V/v: Tranh chấp ly hôn
và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết. Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hòa và ông Đặng Thái Dìn. -Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền – Thư ký TAND huyện Cẩm Thuỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXX-ST, ngày 16 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2022/QĐST, ngày 05/7/2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Anh Bùi Văn D

sinh năm 1981. Trú tại: TDP Đ, thị trấn Y, huyện Y, Thanh Hóa. Có mặt. 2. Bị đơn:

Chị Quách Thị H

sinh năm 1986 Trú tại: Thôn 5 B, xã C, huyện C, Thanh Hóa. Vắng mặt. ơ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29/3/2022 và bản tự khai cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Bùi Văn D trình bày: Anh và chị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 03/02/2004. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến cuối năm 2005, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị H đã về nhà mẹ đẻ để sinh sống. Anh đã nhiều lần khuyên nhủ và đến đón nhưng chị không về. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2005 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Bùi Văn H, sinh ngày 16/10/2004. Hiện nay con đang ở cùng anh D, nay ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh Bùi Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Quách Thị H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Giấy triệu tập cho chị, nhưng chị vắng mặt không có lý do, không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại biên bản xác minh đối với người thân của chị H là ông Quách Văn Tr (Bố đẻ của chị H). Ông Tr cho biết: Anh D và chị H trong quá trình chung sống đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh D hay uống rượu, cờ bạc và đánh vợ nên chị H cùng với con đã về nhà bố mẹ đẻ để sống. Thời gian sau, anh D đến đón con về quê anh D để sống và học tập. Nay anh D làm đơn xin ly hôn, chị H đã biết và gọi điện về báo lại do chị bận công việc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, điều 56, điều 57, điều 58, điều 81, 82 và điều 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Đề nghị xử cho anh Bùi Văn D ly hôn chị Quách Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Bùi Văn H, sinh ngày 16/10/2004. Giao cháu H cho anh D tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản, công nợ chung: Anh D không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Anh D phải chịu 300.000đ án phí DSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn anh Bùi Văn D làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn chị Quách Thị H trú tại: Thôn 5 B, xã C, huyện C, Thanh Hóa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Chị Quách Thị H hiện không có mặt tại địa phương, không đến Tòa án làm việc. Kết quả xác minh tại Công an xã C, chị H có hộ khẩu thường trú tại địa phương, chị đang đi làm ăn nhưng không có địa chỉ cụ thể, thỉnh thoảng chị vẫn về quê, chị H đi không khai báo cho chính quyền địa phương biết. Căn cứ vào khoản 3 điều 40, điểm b khoản 2 điều 277 của BLDS năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao thì địa chỉ cuối cùng của bị đơn theo hộ khẩu thường trú là thôn 5 B, xã C, huyện C, Thanh Hóa.

Chị H đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Các thủ tục tố tụng đã được đã tiến hành đảm bảo theo quy định tại khoản 5 điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227- Bộ luật TTDS. Tòa án nhân dân huyện C tiến hành xét xử vắng mặt chị H. Bị đơn không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điều 9 – Luật hôn nhân gia đình. Trong quá trình chung sống, giữa anh D và chị H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế gia đình khó khăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị H đã về nhà mẹ đẻ để sinh sống. Anh đã nhiều lần khuyên nhủ và đến đón nhưng chị không về. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2005 cho đến nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào điều 56 – Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh D được ly hôn chị H.

Về con chung: Anh D và chị H có 01 con chung Bùi Văn H, sinh ngày 16/10/2004. Hiện nay, con đang ở với anh D, Anh có nguyện vọng được nuôi con. Xét nguyện vọng nuôi con của anh D là chính đáng, cháu H có nguyện vọng ở với bố. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con nên giao cháu H cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên là phù hợp. Anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên không xem xét

Về án phí: Anh D phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 1 điều 96, khoản 4 điều 147, khoản 5 điều 177, điểm b khoản 2 điều 227 và điều 273 Bộ luật TTDS. Điều 51, điều 56, điều 57, điều 58, điều 81, 82 và 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xử cho anh Bùi Văn D được ly hôn chị Quách Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Bùi Văn H, sinh ngày 16/10/2004. Giao cháu H cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu, nên không giải quyết.

Về án phí: Anh D phải chịu 300.000đ án phí DSST được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0010317, ngày 12/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ