vanban.org

Bản án 49/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 30/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2020. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2021/HS-ST
Ngày 30 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Hiền

2. Ông Đinh Công Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Trà - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2021/HSST ngày 23 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1996; Nơi sinh: tỉnh An Giang. Nơi thường trú: Tổ 7, khóm 2, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là ông Nguyễn Phi H (Đã chết); Mẹ là Đỗ Ngọc S, sinh năm 1975; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh chị em; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 23/4/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai ngiện bắt buộc 18 tháng. tính từ ngày 18/3/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/12/2020 chuyển tạm giam từ ngày 15/12/2020, đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ (Có mặt).

Bị hại: Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ 14, Khu phố P,

phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lâm Quốc A, Sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền mua ma túy sử dụng nên Nguyễn Đức H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 13 giờ ngày 04/12/2020, H đi đến khu vực khu phố Phước Sơn, phường Phước Hòa, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát hiện nhà ông Hoàng Văn N, sinh năm: 1960, HKTT: khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không khóa cổng, bên trong sân nhà có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 72E1 – 490.82 có cắm sẵn chìa khóa trên xe nên H đã lét lút dắt xe ra ngoài nổ máy và chạy về tỉnh Bình Dương. Sau đó, H đến một tiệm thu mua phế liệu (không rõ địa chỉ) mua một biển kiểm soát: 67D1 – 559.93 gắn vào xe mô tô vừa trộm được. Ngày 06/12/2020, H điều khiển xe mô tô trên đến tiệm mua bán xe cũ “Tuấn Anh” tại phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để tiêu thụ thì bị Công an phường L, thành phố B phát hiện. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ, Nguyễn Đức H đã khai nhận hành vi như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, diễn biến sự việc, đặc điểm và số lượng tài sản trộm cắp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 217/KL ngày 08/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Phú Mỹ xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius (năm sản xuất 2017), màu sơn trắng đen, BKS: 72E1 – 490.82, mua lại vào tháng 06/2019 tính đến ngày 09/10/2020 đã qua sử dụng, giá trị còn lại khoảng 85%. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Đức H đã trộm là 11.050.000 đồng .

Về vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn trắng đen, BKS: 72E1 – 490.82 là xe mô tô do anh Bùi Công T, sinh năm: 1984, HKTT: khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vung Tàu đứng tên chủ xe. Tuy nhiên đến tháng 06/2019, anh T đã bán chiếc xe trên cho ông Hoàng Văn N bằng giấy tay nên chưa sang tên đổi chủ. Cơ quan CSĐT đã xử lý giao trả chiếc xe trên cho ông Hoàng Văn N theo Quyết định xử lý vật chứng số 13/QĐ ngày 25/01/2021

Đối với 01 BKS: 67D1 – 559.93 của anh Lâm Quốc A, sinh năm 1995, HKTT: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Vào khoảng tháng 10/2020 anh Quốc A điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter biển số 67D1 – 559.93 đi từ chỗ làm về phòng trọ thuộc thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì phát hiện biển số gắn trên xe mô tô bị rơi. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả biển số nói trên cho anh Lâm Quốc A quản lý, sử dụng theo Quyết định xử lý vật chứng số 13/QĐ ngày 25/01/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Hoàng Văn N sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 37/CT- VKSPM ngày 18/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo. Về hình phạt chính: đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 12 (Mười hai) -15 (Mười lăm) tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1Về tố tụng:

Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra, viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

2 Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ ngày 04/12/2020, tại khu phố Phước Sơn, phường Phước Hòa, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Nguyễn Đức H đã có hành vi lén lút trộm cắp một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, biển số 72E1-490.82 trị giá 11.050.000 đồng là tài sản của ông Hoàng Văn N.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, tuy nhiên do ý thức xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Trước đây đã từng bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai ngiện bắt buộc 18 tháng lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cảnh tỉnh cho bản thân, nhưng lần này bị cáo vì cần tiền để mua ma túy để sử dụng nên bị cáo lại tiếp tục phạm tội.Vì thế,với tính chất, mức độ phạm tội như trên cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải. Do vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3.Về vật chứng: Đã xử lý xong tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ.

4.Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo: trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại, đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ