vanban.org

Bản án 49/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 15/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy bATH vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Khả Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Khả Nh 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Khả Nhj - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy bATH vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:49/2021/HS-ST
Ngày: 15-12-2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa;

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đàm Kiến Dân;

2. Ông Phạm Danh Hiếu;

- Thư kY phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư kY Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lY số: 41/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2021/QĐHPT-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Huỳnh Khả Nh, sinh năm: 1989 tại tỉnh QN. Nơi cư trú và chỗ ở: số 5 Lầu 2, đường TH, phường M, Quận N, Th phố HCM; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn Đ (đã chết) và bà Đoàn Thị Ánh T (còn sống); Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án: không. Tiền sự: không;

Nhân thân: 03 lần (đã xoá án tích), cụ thể:

Lần 01: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 196/2007/HSST ngày 27/9/2007 của Tòa án nhân dân quận 10, Th phố Hồ Chính xử phạt Huỳnh Khả Nh 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2007;

Lần 02: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 88/2009/HSST ngày 09/3/2009 của Tòa án nhân dân quận 8, Th phố HCM xử phạt Huỳnh Khả Nh 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 03 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 196/2007/HSST ngày 27/9/2007 của Tòa án quận 10, Th phố HCM mà bị cáo chưa chấp hành xong thì bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2007. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2010;

Lần 03: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 381/2010/HSST ngày 21/12/2010 của Tòa án nhân dân quận 8, Th phố HCM xử phạt Huỳnh Khả Nh 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2010. Chấp hành xong hình phạt tù năm 2012;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/5/2021 (tạm giam ngày 08/6/2021) tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang; có mặt tại phiên tòa;

* Người bị hại:

- Anh Phan Quốc Ph, sinh năm: 1985; (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp ATH, xã ATH1, huyện CLD, tỉnh ST.

- Anh Dƣơng Minh Th, sinh năm: 1994; (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp 7, xã KHA, huyện UM, tỉnh CM.

Tạm trú: 619 RS, tổ 2, ấp BA, xã BK, huyện CG, Th phố HCM.

- Anh Trần Văn Y, sinh năm: 1997; (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp SL, xã NTS, huyện HĐ, tỉnh KG.

Tạm trú: 619 RS, tổ 2, ấp BA, xã BK, huyện CG, Th phố HCM.

- Anh Trần Hoàng L, sinh ngày: 25/4/2004; (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp 1, xã TRX, huyện ĐS, tỉnh ĐN.

Tạm trú: 619 RS, tổ 2, ấp BA, xã BK, huyện CG, Th phố HCM.

Đại diện theo pháp luật: ông Trần Hoàng Th, sinh năm: 1978;

Nơi cư trú: ấp 1, xã TRX, huyện ĐS, tỉnh ĐN.

Tạm trú: ấp 7, xã XPh, huyện LM, tỉnh HG.

- Anh Nguyễn Duy Th, sinh năm: 1984; (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp CB, xã TT, huyện GCĐ, tỉnh TG.

- Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 2000; (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp TTĐ, xã TH, huyện TC, tỉnh TV.

* Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trịnh Hồng K, sinh năm: 1988;

Nơi cư trú: ấp CP, xã VM A, huyện HB, tỉnh B L.

Tạm trú: C13/B50 ấp 5A xã BH, huyện BC, Th phố HCM.

- Chị Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm: 1989;

Nơi cư trú: ấp 4, xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT.

Tạm trú: C13/B50 ấp 5A xã BH, huyện BC, Th phố HCM.

- Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1989; (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp VB, xã VH, huyện AP, tỉnh AG.

Tạm trú: C13/B50 ấp 5A xã BH, huyện BC, Th phố HCM.

- Chị Trần Thị Ng, sinh năm: 1983;

Nơi cư trú: Thôn NA, xã XL, huyện LT, tỉnh VP.

* Người làm chứng:

- Chị Lê Thị Thúy A, sinh năm: 1988;

Nơi cư trú: ấp 4, xã VT, huyện VT, tỉnh HG.

Tạm trú: C13/B50 ấp 5A xã BH, huyện BC, Th phố HCM.

- Anh Phan Văn L, sinh năm: 1975;

Nơi cư trú: ấp ATH, xã ATr 1, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

Tạm trú: 619 RS, tổ 2, ấp BA, xã BK, huyện CG, Th phố HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 29/5/2021, Huỳnh Khả Nh sau khi uống rượu xong, quay về phòng trọ tại ấp LH, xã LC, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, Huỳnh Khả Nh nhìn thấy anh Trần Hoàng L, Trần Văn Y, Phan Quốc Ph ngủ chung một chỗ, 03 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A50, OPPO A15, OPPO F11 PRO đang cắm sạc kế bên nên nảy sinh Y định trộm cắp, Huỳnh Khả Nh lén lút lấy cắp 03 điện thoại di động, bỏ đi ra ngoài thì nhìn thấy anh Nguyễn Thanh H đang ngủ trong thùng xe tải, điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 8 để trên người nên Huỳnh Khả Nh tiếp tục lấy cắp. Khi đi ra tới cabin của xe tải, Huỳnh Khả Nh nhìn thấy anh Dương Minh Th đang ngủ trong cabin và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 cũng đang sạc nên Huỳnh Khả Nh tiếp tục lấy cắp. Sau khi lấy được 05 điện thoại di động trên, Huỳnh Khả Nh đi ra phòng trọ của anh Nguyễn Duy Th, lúc này tất cả người trong phòng đều ngủ nhưng không khóa cửa, Huỳnh Khả Nh đẩy cửa vào bên trong nhìn thấy xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Exciter, màu đỏ đen biển kiểm soát 63B7-361.81 có cắm sẵn chìa khóa nên lén lút lấy trộm rồi điều khiển xe tẩu thoát về Th phố HCM.

Khoảng 01 giờ ngày 30/5/2021, Huỳnh Khả Nh điều khiển xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Exciter, màu đỏ đen biển kiểm soát 63B7-361.81 trộm được đến nhà trọ của bạn gái tên Trịnh Hồng K. Tại đây, Huỳnh Khả Nh cho chị Trịnh Hồng K một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, cho chị Nguyễn Thị Mộng T (là bạn chung phòng của chị Trịnh Hồng K) một điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 8, bán cho anh Nguyễn Thanh T ở trọ kế phòng của chị Trịnh Hồng K một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 với giá 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), sau đó Huỳnh Khả Nh chở chị Trịnh Hồng K đi thuê khách sạn ngủ. Đến khoảng 03 giờ, Huỳnh Khả Nh trả phòng và chở chị Trịnh Hồng K đến khách sạn Hòa Thuận 2 để tìm gặp chị Trần Thị Ng đang thuê trọ tại đây, sau đó Huỳnh Khả Nh cho chị Trần Thị Ng một điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A50. Đến khoảng 05 giờ, anh Nguyễn Thanh T có điện thoại cho chị Trịnh Hồng K nhờ chị Trịnh Hồng K nói với Huỳnh Khả Nh mua dùm ma túy và hẹn ở bến xe Quận 8 lấy tiền. Khoảng 07 giờ, Huỳnh Khả Nh chạy đến chỗ hẹn với anh Nguyễn Thanh T thì không gặp nhưng bị anh Phan Văn L là chủ công ty Khải L và anh Phan Quốc Ph bắt giữ giao cho Công an phường 6, Quận 8, Th phố HCM.

Tang vật thu giữ:

- 01 (một) xe mô tô Yamaha Exciter 150, màu đỏ đen, biển kiểm soát 63B7-361.81 (đã qua sử dụng) của anh Nguyễn Duy Th;

- 01 (một) cái ví tiền, trong đó có các giấy tờ xe, chứng minh nhân dân của anh Nguyễn Duy Th;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 màu đen (đã qua sử dụng) của anh Trần Văn Y;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A50 màu xanh đen (đã qua sử dụng) của anh Trần Hoàng L;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu tím (đã qua sử dụng) của anh Dương Minh Th;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 PRO màu xanh tím (đã qua sử dụng) của anh Phan Quốc Ph;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 8 màu xanh dương (đã qua sử dụng) của anh Nguyễn Thanh H.

Theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Gò Công số 17/KL-HĐĐG ngày 07/6/2021:

- 01 (một) xe mô tô Yamaha Exciter 150 (màu đỏ đen), biển số 63B7-361.81 trị giá 23.000.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 (màu đen) trị giá 2.400.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A50 (màu xanh đen) trị giá 3.200.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 (màu tím) trị giá 2.400.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 PRO (màu xanh tím) trị giá 3.400.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 8 (màu xanh dương) trị giá 1.500.000 đồng.

Tổng giá trị các tài sản bị mất trộm là: 35.900.000đ (ba mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSTXGC ngày 25/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Huỳnh Khả Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Huỳnh Khả Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

2/ Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Khả Nh từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2021.

3/ Về xử lY vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Đề nghị trả lại cho anh Nguyễn Thanh H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 8 (màu xanh dương) đã qua sử dụng.

4/ Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Khả Nh trả cho anh Nguyễn Thanh T số tiền 600.000 đồng mà anh T đã mua điện thoại của Huỳnh Khả Nh.

5/ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có Y kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Huỳnh Khả Nh rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đều tra Công an thị xã Gò Công, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có Y kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Khả Nh đã khai nhận: vào khoảng 23 giờ ngày 29/5/2021, sau khi uồng rượu xong Huỳnh Khả Nh lén lút lấy cắp 05 điện thoại di động, và 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Exciter, màu đỏ đen biển kiểm soát 63B7-361.81 tại ấp LH, xã LC, thị xã Gò Công. Tổng giá trị các tài sản bị mất trộm là: 35.900.000đ (Ba mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng) như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.

Lời khai nhận trên của bị cáo Huỳnh Khả Nh đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gò Công; Kết luận định giá số 17/KL-HĐĐGTS ngày 07/6/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Gò Công, lời khai của người bị hại, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan cơ điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Huỳnh Khả Nh đã có hành vi đã có hành vi lén lút, L dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại trong việc quản lY tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị tổng cộng là 35.900.000 đồng. Cho nên hành vi trên của bị cáo Huỳnh Khả Nh đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

. Về động cơ, mục đích của tội phạm: Bị cáo Huỳnh Khả Nh có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi, nhưng chỉ vì chây lười lao động, khi phát hiện tài sản không người trông coi bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được luật pháp nhà nước ta bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa Ph.

. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân không tốt, có 03 tiền án (đã xóa án tích), cụ thể:

Lần 01: Bản án số 196/2007/HSST ngày 27/9/2007 của Tòa án nhân dân quận 10, Th phố HCM xử phạt Huỳnh Khả Nh 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2007.

Lần 02: Bản án số 88/2009/HSST ngày 09/3/2009 của Tòa án nhân dân quận 8, Th phố HCM xử phạt Huỳnh Khả Nh 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 03 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 196/2007/HSST ngày 27/9/2007 của Tòa án quận 10, Th phố HCM mà bị cáo chưa chấp hành xong thì bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2007. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2010;

Lần 03: Bản án số 381/2010/HSST ngày 21/12/2010 của Tòa án nhân dân quận 8, Th phố HCM xử phạt Huỳnh Khả Nh 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2010. Chấp hành xong hình phạt tù năm 2012.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, Huỳnh Khả Nh đã Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Xét về nhân thân của bị cáo có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, và 01 tiền án về tội “Cướp tài sản”. Mặc dù đã được xóa án tích tuy nhiên sau khi chấp hành xong hình phạt được trả tự do hòa nhập cộng đồng, bị cáo không nhận thức được lỗi lầm của mình để làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội, điều này chứng tỏ rằng bị cáo xem thường pháp luật, không chịu sửa chữa lỗi lầm. Vì vậy cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm.

. Theo qui định tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.

. Đối với chị Trịnh Hồng K, Nguyễn Thị Mộng T, Nguyễn Thanh T và Trần Thị Ng, qua làm việc không biết số tài sản mà Huỳnh Khả Nh cho và bán là tài sản do trộm cắp mà có do đó cơ quan không khởi tố là có cơ sở.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Quốc Ph, Dương Minh Th, Trần Văn Y, Trần Hoàng L, Nguyễn Duy Th đã nhận lại được tài sản không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Đối với anh Nguyễn Thanh T đã mua điện thoại từ Huỳnh Khả Nh với giá 600.000 đồng, anh Nguyễn Thanh T yêu cầu Huỳnh Khả Nh có trách nhiệm bồi thường cho anh số tiền 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng). Tại phiên tòa bị cáo cũng đồng Y bồi thường theo yêu cầu của anh T nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về vật chứng:

Ngày 19/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công trao trả lại cho:

+ Anh Dương Minh Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 (màu tím);

+ Anh Phan Quốc Ph 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 PRO (màu xanh tím);

+ Anh Trần Văn Y 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 (màu đen);

+ Anh Trần Hoàng L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A50 (màu xanh đen);

+ Anh Nguyễn Duy Th 01 (một) xe mô tô Yamaha Exciter 150 (màu đỏ đen), biển số 63B7-361.81; 01 (một) cái ví tiền bên trong có giấy tờ xe và chứng minh nhân dân;

Việc xử lY vật chứng của cơ quan điều tra là đúng quy định pháp luật nên ghi nhận.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 8 (màu xanh dương) đã qua sử dụng, đây là tài sản của anh Nguyễn Thanh H nên trả lại cho anh Huỳnh là phù hợp quy định Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Bị cáo Huỳnh Khả Nh phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy bATH vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 48; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy bATH vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Khả Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Khả Nh 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2021.

3. Về xử lY vật chứng:

Trả cho anh Nguyễn Thanh H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 8 (màu xanh dương) đã qua sử dụng. Thời gian thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01 tháng 10 năm 2021 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang).

4. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Huỳnh Khả Nh bồi thường cho anh Nguyễn Thanh T số tiền 600.000 đồng sau khi án có hiệu lực pháp luật.

5. Về án phí:

Buộc bị cáo Huỳnh Khả Nh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền L và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ