- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng H phạm tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2021/HS-ST Ngày 13/7/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lộc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Văn
Bà Đặng Thị Thu
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hoà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 7 năm 2021 tại Hội trường của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2021/TLST - HS ngày 20 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2021/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
NGUYỄN HỒNG H, sinh ngày 15/9/1989; Tại: Quảng Bình; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: T, xã V, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Không tôn giáo; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Hồng L, sinh năm: 1964; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1964; Ông bà đều làm ruộng và trú tại: T, xã V, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; Gia đình có 03 chị em, H là con thứ hai, chưa có vợ con.
Tiền án có 03: Bản án số: 105/2009/HSST ngày 06/11/2009, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 04 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 13/2010/HSST ngày 10/3/2010, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 14/2010/HSST ngày 10/3/2010, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt là 06 năm 06 tháng tù;
Nhân thân: Ngày 19/9/2018 bị Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, đã thi hành. Ngày 20/3/2020 bị Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, chưa thi hành; Tại Bản án số: 21/2008/HSST ngày 13/5/2008 Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự”; Bản án số: 23/2020/HS-ST ngày 28/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 25/2020/HS-ST ngày 10/11/2020, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”, tổng hợp 02 bản án là 48 tháng tù, chấp hành án tại Trại giam Nghĩa An, tỉnh Quảng Trị. Bản án số: 70/2020/HS-ST ngày 24/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 15/2021/HS-PT ngày 11/3/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm, xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang tạm giam một vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Văn Tr, sinh năm 1986; Địa chỉ: TDP, phường N, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Hải H, sinh năm 1983; Địa chỉ: TDP, phường N, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Anh Võ Anh L, sinh năm 1983; Địa chỉ: TDP, phường Đ, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1985; Địa chỉ: TDP, phường Đ, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 18/11/2019, Nguyễn Hồng H đến nhà của anh Lê Hải H ở tổ dân phố, phường N tìm anh Phạm Văn Tr để giải quyết mâu thuẫn trong việc mua bán gỗ. Tại đây H gặp anh H, Tr, Nguyễn Hoàng H và anh Võ Anh L, đều là những người quen của H. H không quen Tr. Do H cho rằng Tr nợ tiền gỗ của H nhưng Tr không chấp nhận nên H đã chửi và dùng tay, chân đánh Tr. Thấy Tr có thái độ hỗn láo với H nên H dùng tay, chân đánh Tr nhưng không gây thương tích và dùng dao lấy ở nhà anh H dọa Tr. H và L can ngăn, H dừng lại và cùng H, L đi ra ngoài. H tiếp tục dùng tay, chân đánh, đá Tr gây thương tích rồi H tự viết giấy với nội dung là Tr nợ H 10.000.000 đồng và để xe mô tô BKS 75H1- 064.45 của Tr cho H để làm tin, rồi ép anh Tr điểm chỉ vào. Do sợ bị đánh nên Tr đã điểm chỉ vào giấy nợ. Sau đó, H lấy xe mô tô của Tr chở Tr về khu công viên trước Trường dạy nghề số 9 ở tổ dân phố, phường N. Hiếu lấy xe mô tô của mình đi theo H. Sau khi chở Tr về, H lấy xe mô tô BKS 75H1-06445, rồi đổi và mượn xe cho H vì đèn xe H không sáng. Sau đó Tr đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Anh Phạm Văn Tr làm đơn từ chối giám định thương tích do Nguyễn Hồng H và Nguyễn Hoàng H gây ra.
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ 01 giấy nợ tiền nêu trên; 01 con dao dài khoảng 75cm, cán dao làm bằng kim loại màu đen dài khoảng 55cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài khoảng 20cm, mũi nhọn; Thu giữ và trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu xanh trắng, BKS 75H1-064.45 cho chủ sở hữu anh Phạm Văn Tr.
Kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐG ngày 12/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu xanh trắng, BKS 75H1 - 064.45 trị giá 19.000.000 đồng.
Trách nhiệm dân sự: Anh Tr đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu về dân sự.
Tại bản cáo trạng số: 32/CT-VKSĐH-KT ngày 17 tháng 5 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Hạnh về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt H từ 07 đến 08 năm tù đến; Vật chứng tịch thu tiêu hũy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Hồng H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện. Khoảng 22 giờ ngày 18/11/2019, H đến nhà H, tại đây H gặp anh H, Tr, H và anh L, đều là những người quen của H. H không quen Tr. Do H cho rằng Tr nợ tiền gỗ của H nhưng Tr không chấp nhận nên H đã chửi và dùng tay tát vào mặt và đầu Tr, dùng chân đánh vào Tr khi Tr đang ngồi. H lấy điện thoại của Tr điện thoại cho chị Hồng nhưng Tr không nghe rõ nội dung. Sau khi điện thoại H tiếp tục dọa nạt Tr, lúc đó H dùng tay tát Tr và Lấy con dao dọa Tr thì được H và L căn ngăn lấy dao cất. H lại tiếp tục dùng chân, tay đánh anh Tr lần hai là Tr ngã chạm nép nền nhà làm chảy máu vùng trán. H tự viết giấy với nội dung Tr nợ Hạnh 10.000.000 đồng rồi đổ mực trong ruột bút bi vào ngón tay trái của Tr, H cầm tay Tr điểm chỉ, sau đó buộc Tr đưa khóa lấy xe mô tô của Tr. Hành vi phạm tội của Tr đã phạm tội “Cướp tài sản”. H phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm nên tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự, đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo sinh ra và lớn lên được gia đình nuôi dưỡng cho đi học, có sự hiểu biết về xã hội nhất định. Trước đây H nhiều lần phạm tội đã được giáo dục trong trại giam, nhưng do thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện về đạo đức lối sống, chây lười trong lao động, thích ăn chơi. Để có tiền tiêu xài cá nhân vượt quá khả năng lao động của mình bị cáo đã phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cố ý trực tiếp đánh đập, dọa nạt, ép anh Tr điểm chỉ vào giấy nợ tiền mặc dù anh Tr không nợ để lấy tài sản là xe mô tô của anh Tr. Hành vi đó cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật, áp dụng mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Hạnh phạm tội lần này là “tái phạm nguy hiểm” nhưng đã truy tố định khung hình phạt nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm nguy hiểm” đối với H.
Ngoài ra H hiện đang thi hành tại Bản án số: 23/2020/HS-ST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 25/2020/HS-ST ngày 10/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” và tổng hợp 02 Bản án là 48 tháng tù, chấp hành án tại Trại giam Nghĩa An, tỉnh Quảng Trị. Bản án số: 15/2021/HS-PT ngày 11/3/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm, xử phạt 06 năm 06 tháng tù, nhưng không coi là tiền án vì hành vi phạm tội của bị cáo sau mà xét xử trước.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo H quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tổng hợp hình phạt: Nguyễn Hồng H đang chấp hành Bản án số: 15/2021/HS-PT ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xử phạt 30 tháng tù và tổng hợp hình phạt 48 tháng tù của Bản án sơ thẩm số 25/2020/HS-ST ngày 10/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ tạm giam 02/8/2020, được trừ đi thời gian bị cáo đã tạm giam trước đó từ ngày 13/02/2020 đến ngày 10/5/2020. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, để tổng hợp hình phạt chung của hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành.
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ 01 con dao dài khoảng 75cm, cán dao làm bằng kim loại màu đen dài khoảng 55cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài khoảng 20 cm, mũi nhọn, càn tịch thu tiêu hủy.
Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng H phạm tội “Cướp tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, 38, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H 07 (Bảy) năm tù. Tổng hợp hình phạt 06 năm 06 tháng tù của Bản án hình sự phúc thẩm số: 15/2021/HS-PT ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình hạt chung của hai bản án là 13 (Mười ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam của bản án trước ngày 02/8/2020, được trừ đi thời gian bị cáo đã tạm giam trước đó từ ngày 13/02/2020 đến ngày 10/5/2020.
4. Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
5. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài khoảng 75cm, cán dao làm bằng kim loại màu đen dài khoảng 55cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài khoảng 20 cm, mũi nhọn.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2021.
6. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Xử buộc bị cáo Nguyễn Hồng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 16/6/2021, đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh. - VKSND tỉnh. - VKSND thành phố Đồng Hới. - Công an thành phố Đồng Hới. - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới. - THA phạt tù. - Người tham gia tố tụng. - Lưu hồ sơ. - Lưu án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Văn Lộc |