- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T + ĐP phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? ăn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 của Bộ lu t hình sự; các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ lu t tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y Ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI M H A CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH TUY N QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2021/HS - ST Ngày 23/6/2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI M H A, TỈNH TUY N QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lƣơng Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Văn Tòng.
2. Ông Lê Xuân Tiếu.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lƣơng Chung Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện hiêm Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa tham gia phiên tòa: Ông Ho ng Duy Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2021 tại tr s T a án nhân dân huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang, T a án nhân dân huyện hiêm Hóa tiến hành xét xử sơ thẩm v án hình sự th lý số: 45/2021/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo:
ĐẶNG VĂN T (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 25/8/1997; nơi sinh: huyện Na Hang, t nh Tuyên Quang; nơi cư trú: th n h, x T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang; Giới t nh: Nam; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; chức v đảng, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: àm ruộng; họ và tên cha: Đ ng Văn , sinh năm 1974; họ và tên mẹ: húc Thị S (đ chết); anh, chị em ruột: Có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất; vợ con: hưa có; nhân thân, tiền án, tiền sự: Kh ng.
Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. ó m t.
BÀN VĂN CH (tên gọi khác: Kh ng); sinh ngày 04/9/1995; nơi sinh: huyện Na Hang, t nh Tuyên Quang; nơi cư trú: th n h, x T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang; giới t nh: Nam; tân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; chức v đảng, đoàn thể trước khi phạm tội: Kh ng; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: àm ruộng; họ và tên cha: Bàn Văn , sinh năm 1971; họ và tên mẹ: Hoàng Thị S, sinh năm 1970; anh, chị em ruột: có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất; vợ con: hưa có; nhân thân, tiền án, tiền sự: Kh ng.
Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. ó m t.
* Người bào chữa cho các bị cáo Đ ng Văn T, Bàn Văn h: Bà Vũ Thanh Thủy
- Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước t nh Tuyên Quang ( ó m t).
* Bị hại: y ban nhân dân x T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang - Người đại diện theo pháp lu t: ng Đ ng Văn H - hức v : hủ tịch y ban nhân dân x , Người đại diện theo ủy quyền: ng Quan Văn Th - hức v : hó chủ tịch y ban nhân dân x (có đơn xin xử vắng m t).
* Người có quyền lợi và nghĩa v liên quan:
- Anh Hoàng Văn , sinh năm 1997, địa ch : Th n h, x T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang (có m t).
- Ông Triệu Văn S, sinh năm 1969, địa ch : Th n h, x T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang.
- Bà Triệu Thị h, sinh năm 1970, địa ch : Th n h, x T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang.
- Ông Đ ng Văn , sinh năm 1976, địa ch : Th n h, x T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang.
- Anh Hoàng Văn , sinh năm 1996, địa ch : Th n , x T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang.
- hị hạm Thị Ng, sinh năm 1987, địa ch : Th n N, x H, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang.
(Ông S, bà Ph, ông D, anh L, chị Ng có đơn xin xử vắng m t).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 10/01/2021 Đ ng Văn T sinh năm 1997, trú tại th n hổ Vền, x Tân Mỹ, huyện hiêm Hóa đến nhà Bàn Văn h sinh năm 1995 (cùng thôn) ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong, T nảy sinh ý định trộm cắp các đoạn ống dẫn nước bằng kim loại của c ng trình cấp nước sạch tại th n P, xã T, huyện hiêm Hóa, do y ban nhân dân x T quản lý, hiện nay kh ng c n hoạt động (Ban di dân tái định cư huyện hiêm Hóa đầu T cấp nước sinh hoạt khu tái định cư th n h, xã T, huyện hiêm Hóa) bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, nên rủ Ch cùng trộm cắp ống nước, Ch đ ng ý, T và Ch thống nhất ai có d ng c gì thì mang theo. T đi đến nhà ng Triệu Văn S sinh năm 1969 (cùng thôn) mượn 01 xà beng dài 1,5m, đường k nh 3cm (khi mượn T nói để đi đào dúi), c n h đi đến nhà bà Triệu Thị h sinh năm 1970 (cùng thôn) mượn 01 búa kim loại, cán búa bằng gỗ dài 76cm, đầu búa bằng sắt n ng 05kg (khi mượn Ch nói để đóng cọc bờ ruộng). Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, T và Ch cùng nhau đi bộ đến khu vực đầu ngu n nước của c ng trình cấp nước tại th n P, xã T, huyện hiêm Hóa. Đến nơi T và Ch nhìn thấy các đoạn ống nước bằng kim loại một phần được ch n xuống đất, một phần nổi trên m t đất nên cả hai cùng nhau dùng búa đ p các khớp nối, dùng xà beng bẩy các đường ống sau đó v n tháo các khớp nối ra. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì tháo được 15 đoạn ống bằng kim loại cùng có k ch thước dài 06m, đường kính 6,5cm, Ch và T cùng nhau vác 15 đoạn ống để cạnh đường ĐT 188 thuộc th n P, xã T, huyện hiêm Hóa. Sau đó T đến nhà anh Hoàng Văn , sinh năm 1997 (cùng thôn) mượn xe m t BKS 22F1-251.38 (khi mượn xe T nói là mượn đi chơi), T điều khiển xe ch Ch cùng đi đến nhà chị hạm Thị Ng, sinh năm 1987, trú tại th n N, x H, huyện hiêm Hóa làm nghề thu mua sắt v n, T h i chị Nga “Chị có mua sắt vụn không”, Ng trả lời “Có mua”, T tiếp t c nói “Em có mấy đoạn ống dẫn nước từ ngày xưa của nhà em không dùng nữa, chị có mua không, tý em chở ra cho chị” Ng nói “Có mua”, Sau đó T, Ch đi tìm xe để ch nhưng kh ng tìm được.
Khoảng 13 giờ ngày 11/01/2021, T tự ý lấy xe mô tô BKS 22K8-4828 của ng Đ ng Văn sinh năm 1976 (là bố đẻ của T) đi đón Ch cùng đến nhà anh Hoàng Văn sinh năm 1996, trú tại th n , x T, huyện hiêm Hóa h i mượn 01 xe cải tiến có hai bánh, m c đ ch để ch các đoạn ống nước trộm cắp được (khi mượn T nói là để ch ng ), sau đó T kéo xe cải tiến ra ngoài r i điều khiển xe m tô BKS 22K8-4828, Ch ng i sau cầm và kéo xe cải tiến đi đến khu vực cất giấu các đoạn ống nước trộm cắp trước đó. Khi đến nơi, Ch bảo T quay lại để đón Tài (kh ng rõ họ tên, địa ch ), ch biết Tài khoảng 13 đến 15 tuổi x húc Yên, huyện âm Bình đang chơi nhà Ch để v n chuyển số ống nước đ trộm cắp được đem đi bán. Sau đó T, Ch, Tài cùng nhau bốc 14 đoạn ống nước trộm cắp được lên xe cải tiến, còn 01 đoạn ống nước Ch để lại lấy về nhà dùng, r i ch đến nhà Ng để bán, Nga nói “Dài thế, chị Tởng ngắn, không phải đồ ăn trộm đâu chứ”, T nói “Không sao đâu chị ạ, ống nước này là của di dân bọn em, có gì em chịu trách nhiệm”, chị Nga đ ng ý mua 14 đoạn ống nước trên với giá 2.480.000đ (Hai triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Khi bán xong T chia cho Tài 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), T và Ch mỗi người 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng), số tiền c n lại 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) T, Ch dùng để mua thức ăn về ăn cùng nhau.
Ngày 12/01/2021, ng an x T nh n được tố giác có đối tượng ch ống nước của dự án nước sạch bán cho cơ s thu mua sắt v n, tổ c ng tác đến kiểm tra tại nhà chị Ng phát hiện thu giữ 14 đoạn ống kim loại T và Ch đ bán cho. ùng ngày T và đ trả Ch cho chị Ng số tiền 1.500.000 đ ng. Ngày 13/01/2021 Ch giao nộp cho Công an xã T 01 đoạn ống kim loại Ch giữ lại.
Bản kết lu n định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 09/02/2021 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện hiêm Hóa, kết lu n: Tổng giá trị 15 đoạn ống nước bằng thép tráng kẽm, mỗi ống có chiều dài 6m, đường k nh 6,5cm, có tổng trọng lượng 430kg, tại thời điểm tháng 01/2021 có trị giá là: 3.010.000 đồng (Ba triệu, không trăm mười nghìn đồng chẵn).
Trước cơ quan điều tra, các bị cáo Đ ng Văn T, Bàn Văn h đ khai nh n hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo c n được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường, v t chứng thu giữ, kết lu n định giá tài sản, biên bản h i cung bị can, lời khai bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa v liên quan, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong h sơ v án.
áo trạng số: 46/CT-VKSCH ngày 17/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện hiêm Hóa truy tố các bị cáo Đ ng Văn T, Bàn Văn h về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t hình sự.
Kết thúc phần xét h i, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện hiêm Hóa giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều lu t đ nêu trong bản cáo trạng đối với các bị cáo và đề nghị Hội đ ng xét xử.
Về hình phạt chính: ăn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Điều 65 Bộ lu t Hình sự, xử phạt các bị cáo:
Đ ng Văn T từ 07 tháng 10 tháng tù cho hư ng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng, hạn thử thách t nh từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bàn Văn h từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hư ng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, hạn thử thách t nh từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đ ng Văn T thuộc diện hộ c n nghèo, bị cáo Bàn Văn h thuộc diện hộ nghèo kh ng có tài sản riêng gì có giá trị, nên kh ng áp d ng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: y ban nhân dân x T đ nh n lại 15 đoạn ống nước bằng kim loại, mỗi ống có chiều dài 06m, đường k nh 6,5cm và không yêu cầu các bị cáo phải b i thường, do v y kh ng đề nghị xem xét.
Tại giai đoạn điều tra Đ ng Văn T, Bàn Văn h đ trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa v liên quan hạm Thị Ng tổng số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), còn lại số tiền 980.000đ (Chín trăm tám mươi nghìn đồng) chị Ng kh ng yêu cầu b i thường. o v y kh ng đề nghị xem xét
Về v t chứng của v án: Quá trình điều tra ơ quan ảnh sát điều tra ng an huyện hiêm Hóa đ tạm giữ 15 (Mười lăm) đoạn ống bằng kim loại, mỗi ống có chiều dài 06m, đường k nh 6,5cm, màu xám, tình trạng đ cũ, đ qua sử d ng. Ngày 12/4/2021 ơ quan ảnh sát điều tra ng an huyện hiêm Hóa đ trả lại cho chủ s hữu là y ban nhân dân xã T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang. Kh ng đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét, giải quyết.
Ngoài ra đề nghị Hội đ ng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp lu t.
Trong v án này, có các ông, bà Triệu Văn S, Triệu Thị h, Hoàng Văn , Hoàng Văn là những người cho các bị can mượn c ng c , phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, khi cho mượn tài sản kh ng biết việc các bị can sử d ng vào m c đ ch phạm tội nên không có căn cứ xử lý.
Đối với ng Đ ng Văn là chủ xe m t BKS 22K8-4828, do kh ng biết việc Đ ng Văn T lấy xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội nên kh ng đề c p hình thức xử lý.
Đối với hạm Thị Ng quá trình mua tài sản kh ng biết ngu n gốc tài sản do Đ ng Văn T, Bàn Văn h trộm cắp mà có nên kh ng có căn cứ xử lý.
Đối với người tên Tài, quá trình điều tra kh ng xác định được tên, tuổi, địa ch c thể nên Cơ quan ảnh sát điều tra ng an huyện hiêm Hóa đ tách các tài liệu có liên quan đến hành vi của người tên Tài để tiếp t c điều tra, xử lý sau.
Người bào chữa cho các bị cáo Đ ng Văn T và Bàn Văn h phát biểu quan điểm: Nhất trí với nội dung bản cáo trạng và nội dung bản lu n tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, t nh Tuyên Quang. Bị cáo T và bị cáo Ch là người dân tộc thiểu số cư trú vùng có điều kiện kinh tế đ c biệt khó khăn nên nh n thức pháp lu t còn hạn chế, tại phiên t a cũng như tại ơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; đại diện y ban nhân dân xã T xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. ăn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ lu t Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo T mức thấp nhất của khung hình phạt và bị cáo Ch mức kh i điểm của khung hình phạt tù cho hư ng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo. Do bị cáo Ch thuộc hộ nghèo, bị cáo T thuộc hộ c n nghèo không có tài sản có giá trị nên đề nghị không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Tại phiên t a các bị cáo Đ ng Văn T và Bàn Văn h đ thành khẩn khai nh n hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đ nêu. Xác định đ có hành vi trộm cắp 15 ống dẫn nước tại ng trình nước sạch th n P, xã T, kh ng có ý kiến tranh lu n với lu n tội của Viện kiểm sát. Nh n thức được hành vi của mình là vi phạm pháp lu t, đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
y ban nhân dân x T do ng Quan Văn Th đại diện theo ủy quyền có đơn xin xử vắng m t trình bày: ng trình nước sạch th n P, xã T, huyện Chiêm Hóa được xây dựng và đưa vào sử d ng năm 2006 đến năm 2009 thì ngừng hoạt động do lượng nước đầu ngu n cạn kh ng đủ để cung cấp cho c ng trình. Công trình do y ban nhân dân huyện hiêm Hóa là chủ đầu tư, sau khi hoàn thành thì được bàn giao lại y ban nhân dân x T quản lý. Bị cáo T và bị cáo Ch lợi d ng c ng trình ngừng hoạt động nên trộm cắp 15 đoạn ống bằng thép tráng kẽm, mỗi ống có chiều dài 6m, đường k nh 6,5cm. Ngày 12/4/2021 ơ quan ảnh sát điều tra ng an huyện hiêm Hóa đ trả lại 15 đoạn ống nước cho y ban nhân dân x T quản lý. y ban nhân dân x T kh ng yêu cầu các bị cáo phải b i thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo
Người có quyền lợi nghĩa v liên quan chị hạm Thị Ng có đơn xin xử vắng m t trình bày giữ nguyên quan điểm tại cơ quan điều tra: Khi mua 14 ống dẫn nước với số tiền là 2.480.000 đ ng do các bị cáo Đ ng Văn T và Bàn Văn h bán, chị Ng không biết đấy là tài sản do T và Ch trộm cắp, quá trình điều tra bị cáo T và bị cáo Ch đ trả lại cho chị số tiền 1.500.000 đ ng, c n lại số tiền 980.000 đ ng chị Ng kh ng yêu cầu các bị cáo phải trả lại và chị kh ng có yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ s nội dung của v án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong h sơ v án đ được tranh t ng tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Qua xem xét, nghiên cứu h sơ và diễn biến tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nh n định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định. Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. o đó, các hành vi, quyết định tố t ng của ơ quan tiến hành tố t ng và người tiến hành tố t ng đ thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên t a cũng như tại ơ quan điều tra, các bị cáo đ khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. hù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan, được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường, v t chứng thu giữ, kết lu n định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong h sơ v án. Có đủ căn cứ để kết lu n: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ 00 phút đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 10/01/2021, Đ ng Văn T, sinh năm 1997 và Bàn Văn h, sinh năm 1995, cùng trú tại th n h, x T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang đ có hành vi trộm cắp 15 đoạn ống nước bằng thép tráng kẽm, mỗi ống có chiều dài 06m, đường k nh 6,5cm tại th n P, xã T, huyện hiêm Hóa do y ban nhân dân x T, huyện hiêm Hóa quản lý, hiện nay kh ng c n hoạt động, có tổng trị giá là: 3.010.000 đồng (Ba triệu, không trăm mười nghìn đồng chẵn). Tội phạm và hình phạt quy định khoản 1 Điều 173 Bộ lu t hình sự, như v y áo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện hiêm Hóa truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp lu t.
Hành vi của các bị cáo đ trực tiếp xâm phạm đến quyền s hữu hợp pháp được Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến tr t tự trị an, an toàn x hội, gây dư lu n xấu tại địa phương. Bản thân các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp lu t nhưng vì T lợi cá nhân các bị cáo đ lợi d ng sơ h trong việc bảo vệ, quản lý của chủ s hữu tài sản để chiếm đoạt tài sản một cách cố ý, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm độc l p đối với hành vi của mình. Tuy nhiên t nh chất, mức độ phạm tội của các bị cáo trong v án là khác nhau:
Bị cáo Đ ng Văn T là người chủ mưu, trực tiếp đi mượn bị xà beng và t ch cực tháo các đoạn ống nước và là người đi liên hệ tìm chỗ bán các đoạn ống nước trộm cắp được, do đó bị cáo Đ ng Văn T giữ vai tr ch nh trong v án. Bị cáo Bàn Văn h là người được bị cáo T rủ rê đ nhất tr và đi mượn búa cùng bị cáo T đến ng trình nước sạch để tháo các đoạn ống nước đem bán, vì v y t nh chất, mức độ của bị cáo Ch thấp hơn bị cáo T.
Hội đ ng xét xử xét thấy, trong v án này tuy các bị cáo cùng tham gia trộm cắp tài sản, nhưng các bị cáo kh ng có sự bàn bạc, thống nhất c thể, xác định đây là v án mang t nh chất đ ng phạm giản đơn, nên cần áp d ng Đều 17, Điều 58 Bộ lu t hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ác bị cáo kh ng có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp t nghiêm trọng. Ngoài ra, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sinh sống vùng kinh tế x hội đ c biệt khó khăn, nh n thức pháp lu t c n hạn chế; đại diện y ban nhân dân x T xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t hình sự cần xem xét, áp d ng cho các bị cáo khi lượng hình.
Xét t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đ ng xét xử thấy rằng các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo T và bị cáo Ch có nơi cư trú ổn định rõ ràng, xét kh ng cần thiết cách ly các bị cáo ra kh i đời sống x hội mà xử các bị cáo T và Ch hình phạt tù nhưng cho hư ng án treo cũng đủ tác d ng răn đe, giáo d c đối với các bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên t a là phù hợp, có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo T thuộc diện hộ c n nghèo, bị cáo Ch thuộc diện hộ nghèo không có tài sản có giá trị, kh ng có nghề nghiệp nên kh ng áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên t a đại diện UBN x T, huyện hiêm Hóa kh ng đề nghị các bị cáo b i thường, nên HĐXX kh ng xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan chị hạm Thị Ng xác nh n các bị cáo Đ ng Văn T, Bàn Văn h đ trả lại cho chị hạm Thị Ng số tiền 1.500.000 đ ng, còn lại số tiền 980.000 đ ng chị Ng kh ng yêu cầu các bị cáo phải b i thường. Nên Hội đ ng xét xử kh ng xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Quá trình điều tra ơ quan ảnh sát điều tra ng an huyện hiêm Hóa đ tạm giữ 15 (Mười lăm) đoạn ống băng kim loại, mỗi ống có chiều dài 06m, đường k nh 6,5cm, màu xám, tình trạng đ cũ, đ qua sử d ng. Ngày 12/4/2021 ơ quan ảnh sát điều tra ng an huyện hiêm Hóa đ trả lại cho chủ s hữu là y ban nhân dân xã T, huyện hiêm Hóa, t nh Tuyên Quang. Hội đ ng xét xử kh ng xem xét giải quyết
ác vấn đề khác.
Đối với ng Triệu Văn S, bà Triệu Thị h, anh Hoàng Văn , anh Hoàng Văn là những người cho các bị cáo mượn c ng c , phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, khi cho mượn tài sản kh ng biết việc các bị cáo sử d ng vào m c đ ch phạm tội nên Hội đ ng xét xử không xem xét, giải quyết.
Ông Đ ng Văn là chủ xe m t BKS 22K8-4828, do kh ng biết việc Đ ng Văn T lấy xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội nên xem xét, giải quyết.
hị hạm Thị Ng quá trình mua tài sản kh ng biết ngu n gốc tài sản do Đ ng Văn T, Bàn Văn h trộm cắp mà có nên đề c p xử lý.
Đối với người tên Tài, quá trình điều tra kh ng xác định được tên, tuổi, địa ch c thể nên ơ quan ảnh sát điều tra ng an huyện hiêm Hóa đ tách các tài liệu có liên quan đến hành vi của người tên Tài để tiếp t c điều tra. Nên kh ng đề c p xử lý.
Về án ph và quyền kháng cáo: ác bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp lu t.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
ăn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 của Bộ lu t hình sự; các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ lu t tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y Ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án ph , lệ ph T a án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đ ng Văn T và Bàn Văn h phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
Xử phạt Đ ng Văn T 07 tháng tù cho hư ng án treo, thử thách 01 năm 02 tháng. Thời hạn thử thách t nh từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt Bàn Văn h 06 tháng tù cho hư ng án treo, thử thách 01 năm. Thời hạn thử thách t nh từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Đ ng Văn T và Bản Văn Ch cho y ban nhân dân x T, huyện hiêm Hóa quản lý, giáo d c trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với ch nh quyền địa phương trong việc giám sát, giáo d c người được hư ng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại các Điều 68, 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Các bị cáo Đ ng Văn T và Bàn Văn Ch, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng tiền án ph hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có m t có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/6/2021). Bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án vắng m t có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được bản án ho c kể từ ngày bản án được niêm yết c ng khai./.
| Nơi nhận: - TAN t nh Tuyên Quang; - VKSND huyện, t nh; - Phòng HSNV A t nh Tuyên Quang; - S T pháp t nh Tuyên Quang; - ng an huyện hiêm Hóa; - Trại tạm giam A t nh; - hi c c THA S huyện hiêm Hóa; - ác bị cáo; - Bị hại; - Những người tham gia tố t ng khác; - ưu HS, VT. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHI N TÒA (đã ký) Lƣơng Thị Huệ |