vanban.org

Bản án 49/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 147, 266, 271

và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Y - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 147, 266, 271
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 49/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2021
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Rỏn;

2. Ông Tạ Hồng Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

H, tỉnh Long An.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 86/2021/TLST-HNGĐ ngày

15 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số: 56/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y - Sinh năm 1973- Địa chỉ: Ấp TH, xã BHB,

huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T - Sinh năm 1967 - Địa chỉ: Ấp TH, xã BHB,

huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 4 năm 2021, các văn bản tiếp theo,

nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y trình bày và yêu cầu:

Bà và ông Nguyễn Văn T cưới nhau có đăng ký kết hôn ngày 21-01-1998 tại

Ủy ban nhân dân xã BHB; Chung sống đến năm 2009 phát sinh mâu thuẫn do bất

đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau, đã ly thân từ năm 2010.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T;

Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thị B, sinh năm 1993, Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1997 và Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 03-02-2007, con chung tên N đang sống chung với bà; Hai con chung tên B và T1 đã thành niên, không yêu cầu giải quyết; Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên N, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Vụ án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Nguyễn Văn T

đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt.

- Ngày 20-9-2021, bà Nguyễn Thị Y có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn là ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý

do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Thị Y khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Nguyễn Văn

T; Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà Y có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại

khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Bị đơn là ông T được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng

không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương

sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Xét về hôn nhân:

Bà Y và ông T chung sống có đăng ký kết hôn ngày 21-01-1998 tại Ủy

ban nhân dân xã BHB, huyện H, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà Y và ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Y: Bà Y và ông T xảy ra mâu thuẫn do bất

đồng quan điểm trong cuộc sống từ năm 2009, đã ly thân từ năm 2010 (theo trình bày của bà Y); Từ khi xảy ra mâu thuẫn và ly thân đến nay bà Y và ông T vẫn sống ly thân, mỗi người tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa bà Y và ông T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà Y yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định

tại điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận. Ông T không có ý kiến

nên không có căn cứ xem xét.

Về nuôi con chung:

Xét các con chung tên Nguyễn Thị B, sinh năm 1993 và Nguyễn Thị Bích

T1, sinh năm 1997 đã thành niên nên bà Y không yêu cầu giải quyết là phù hợp; Con

chung Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 03-02-2007, nguyện vọng muốn sống chung bà

Y, nên chấp nhận theo yêu cầu của bà Y là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật

Hôn nhân gia đình năm 2014; Ông T không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Bà Y không yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp

quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình nên ghi nhận.

Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà Y và ông T được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con

chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83,

84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà Y trình bày không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết, ông T không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét, do đó

không đề cập. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện vụ án khác

theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 59 và 60

Luật Hôn nhân gia đình.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy:

Bà Y là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân

sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm đã nộp, bà Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông T không phải chịu án phí

dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 147, 266, 271

và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Y được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Con chung tên Nguyễn Thị B, sinh năm 1993 và Nguyễn Thị Bích T1, sinh

năm 1997 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

2.2. Bà Nguyễn Thị Y được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Bích N,

sinh ngày 03-02-2007, đang sống với bà Y, theo nguyện vọng của con chung. Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích

của con chung, bà Y và ông T được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án

giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (Biên lai thu số 0009172 ngày 15-4-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H), bà Y đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ