- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn D - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| HTÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2020/HSST Ngày 13/05/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Lý.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Hiếu.
2. Bà Nguyễn Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 05 năm 2020, t¹i trô së Toµ ¸n nh©n d©n quËn Hà Đông, thµnh phè Hµ Néi xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè 62/2020/HSST ngµy 31 th¸ng 3 n¨m 2020 ®èi víi bị cáo:
VŨ VĂN D, sinh năm 1991; tại Hòa Bình; Nơi ĐKHKTT: xóm Ót, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Hiện trú tại: Số 42, ngõ 34, Tổ dân phố 2 V, phường P, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Vũ Ngọc Đ và bà Đinh Thị T, có vợ là Nông Đồng T và 01 con sinh năm 2015; theo danh chỉ bản số 120 ngày 15/01/2020 tại Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội bị cáo không có tiền án, tiền sự; Tạm giữ, tạm giam: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/01/2020 đến nay; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
Chị Nông Đồng T – sinh năm 1990.
Hiện trú tại: xóm Ót, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn D kết hôn với chị Nông Đồng T vào năm 2014, nhưng do không hòa hợp trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng nên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay.
Khoảng 10 giờ ngày 12/09/20196, chị Nông Đồng T đi cùng cháu gái là chị Hoàng Ngọc A, đến quán cà phê “555” ở khu đất dịch vụ 3 Văn Phú, thuộc tổ 2, phường Phú La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội gặp Vũ Văn D để giải quyết việc ly hôn. Trong lúc nói chuyện, giữa chị T và D xảy ra to tiếng cãi chửi nhau. Chị T cầm chiếc cốc đựng nước trên bàn hắt vào người D. D liền đứng dậy cầm chiếc cốc thủy tinh trên bàn đập trúng vào vùng đỉnh trái của chị T. Thấy vậy, chị A đứng lên giữ tay D để can ngăn khiến chiếc cốc D đang cầm ở tay văng ra phía sau rơi xuống đất nên bị vỡ. Sau đó, được mọi người can ngăn, D bỏ về. Hậu quả chị T bị thương rách da ở vùng đầu phía trên tai trái, phải đến Bệnh viện Quân y 103 để khâu và điều trị vết thương.
Tại Kết luận giám định pháp y thương tích số 6204/C09-TT1 ngày 04/11/2019 của Trung tâm Giám định pháp y – Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an kết luận: “Đối chiếu Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/06/2014 của Bộ Y tế, áp dụng Mục 1, phần I, chương 9, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Nông Đồng T tại thời điểm giám định là 01%. Thương tích vùng đỉnh trái của chị Nông Đồng T do vật tày gây nên”.
Ngày 14/01/2020, chị Nông Đồng T đã có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Vũ Văn D về hành vi gây thương tích đối với chị T.
Trước cơ quan điều tra, Vũ Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Vũ Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Vũ Văn D từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại là chị Nông Đồng T có đơn không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường cho chị nữa, nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
. Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định pháp y thương tích và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/9/2019, tại quán cà phê “555” ở khu đất dịch vụ 3 Văn Phú, thuộc tổ 2, phường Phú La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng trong lúc bàn việc giải quyết ly hôn, Vũ Văn D đã có hành vi dùng cốc thủy tinh đập vào vùng đỉnh đầu bên trái chị Nông Đồng T. Hậu quả chị T bị tổn thương cơ thể 01%. Quá trình thực hiện tội phạm bị cáo đã sử dụng chiếc cốc bằng thủy tinh dùng để uống nước để gây thương tích cho chị T là thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm”. Hành vi nêu trên của Vũ Văn D đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt đã được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân nơi có tội phạm xảy ra. Do vËy, cÇn ¸p dông h×nh ph¹t t ¬ng xøng víi tÝnh chÊt vµ møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o míi cã t¸c dông c¶i t¹o, gi¸o dôc bÞ c¸o vµ phßng ngõa chung.
. Tuy nhiên, xét toàn bộ diễn biến vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng phía người bị hại cũng có một phần lỗi bởi: Trước khi bị cáo có hành vi gây thương tích cho chị T thì bản thân chị T đã có hành vi cầm cốc đựng nước trên bàn hắt vào người bị cáo D trước, dẫn đến D có hành vi gây thương tích cho chị T; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng cùng với những tình tiết giảm nhẹ nêu trên và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không nguy hiểm cho xã hội hoặc gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, xét thấy có thể cho bị cáo Vũ Văn D được cải tạo tại xã hội, để D có cơ hội phấn đấu chuộc lại lỗi lầm trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra người bị hại là chị Nông Đồng T yêu cầu bị cáo Vũ Văn D phải bồi thường thương tích với số tiền là 5.000.000 đồng. Quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử chị T có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo Vũ Văn D phải bồi thường về phần dân sự nữa. Xét sự tự nguyện của chị T không trái pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, theo đó Hội đồng xét xử không xem xét phần dân sự trong vụ án này.
[6]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Vũ Văn D 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Vũ Văn D về cho UBND phường Phú La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Vũ Văn D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 136, 331, 233 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
BÞ c¸o Vũ Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại chị Nông Đồng T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:
| - C«ng an quËn Hà Đông; - ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn Hà Đông; - BÞ c¸o; - Người bị hại; - Lưu HS/VP. N¬i nhËn: - C«ng an quËn Hà Đông; - ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn Hà Đông; - BÞ c¸o; ng êi ®¹i diÖn cho bÞ c¸o; - LuËt s ; - BÞ h¹i; - Lưu HS/VP. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm thÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ §µo ThÞ Hång Lý TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm thÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ §µo ThÞ Hång Lý |