vanban.org

Bản án 49/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 18/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn D 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 20/12/2019. Áp dụng: Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 0,95 gam Methamphetami… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 49/2020/HSST.
Ngày: 18/3/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Khải;

2. Ông Lò Văn Ơn.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Dần - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đ B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 18/3/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2020/TLST-HS ngày 27/02/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST-HS ngày 05/3/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn D; Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1975, tại Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản N L, Xã S M, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn P, sinh năm 1927 và bà: Lò Thị , sinh năm 1930; vợ: Quàng Thị Ch, sinh năm 1978; con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo đã có án tích đã được xóa, không bị xử lý hành chính; bị bắt từ ngày 20/12/2019 "có mặt."

Ngƣời có nghĩa vụ liên quan: Lò Văn Tưởng, sinh năm 1977."Vắng mặt"

Địa chỉ: Bản Đon Đứa, Xã S M, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 19/12/2019, bị cáo đi từ nhà đến khu vực đường thuộc Bản N L, Xã S M, huyện Đ B với mục đích là mua ma túy về sử dụng và bán lẻ cho người khác. Bị cáo mua được 11 Methamphetamine với giá tiền là 100.000đ của Lò Văn Phương, sinh năm 1988, trú tại bản Yên, Xã S M, huyện Đ B. Bị cáo về nhà cho 11viên Methamphetamine được gói bằng ni lon màu hồng vào một lọ kim loại có nắp đậy màu đen bằng nhựa, bên ngoài quấn băng dính màu đen rồi cất vào túi áo bên trái đang mặc. Khoảng 11 giờ ngày 20/12/2019 khi bị cáo đang ở nhà thì có Lò Văn Tưởng vào nhà hỏi mua 01 viên Methamphetamine và bị cáo đã bán 01 viên Methamphetamine cho Tưởng với giá tiền là 50.000đ để sử dụng và sau đó Tưởng đã mang đi sử dụng hết. Hồi 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi bị cáo đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Đ B phối hợp với Công an Xã S M đang làm nhiệm vụ tại khu vực Bản N L, Xã S M phát hiện, bắt quả tang, vật chứng thu giữ 0,95 gam Methamphetamine trong lọ tại túi áo trái đang mặc và 50.000đ do bị cáo bán ma túy cho Tưởng mà có.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 20/12/2019 đã xác định: Số viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,95 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số: 25/GĐ - PC09 ngày 27/12/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

- Mẫu viên nen màu hồng được trích từ vật chứng thu giữ của Lò Văn D gửi giám định là Methamphetamine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKSĐB ngày 27/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố bị cáo Lò Văn D về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS;

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí HSST.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Ngày 19/12/2019, bị cáo đi mua ma túy về và ngày 20/12/2019 đã bán ma túy cho Lò Văn Tưởng 01 viên Methamphetamine được 50.000đ, bị cáo đang cất giấu 0,95 gam Methamphetamine thì bị bắt cùng 50.000đ.

Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là nghiêm trọng, nên cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngày 14/8/2003 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Biên Phủ xử phạt 04 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 19/10/2004 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đ B xử phạt 30 tháng tù về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" nay đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo có bó đẻ được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS.

Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, kinh tế khó khăn, không có khả năng thi hành. Cho nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ có được theo bị cáo khai là do bị cáo mua của Lò Văn Phương, qua điều tra Phương không thừa nhận là được bán ma túy cho bị cáo, việc mua bán giữa hai người không có ai biết, nên CQĐT không có cơ sở để chứng minh Phương đã bán ma túy cho bị cáo.

Đối với Lò Văn Tưởng đã mua ma túy của bị cáo để sử dụng và đã sử dụng hết nên hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an huyện Đ B đã xử phạt hành chính đối với Tưởng với hình thức là cảnh cáo.

Đối với số tiền 50.000đ là tiền do bị cáo bán ma túy mà có, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số hiện đang cư trú tại xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 của chính phủ và có đơn xin miễn án phí HSST. Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.

. Vật chứng: 0,95 gam Methamphetamine, gửi giám định 0,19 gam (không hoàn lại mẫu vật sau giám định) và 01 lọ bằng kim loại cần bị tịch thu tiêu hủy; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 50.000đ do bị cáo bán ma túy mà có theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn D 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 20/12/2019.

3. Áp dụng: Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 0,95 gam Methamphetamine, gửi giám định 0,19 gam (không hoàn lại mẫu vật sau giám định) và 01 lọ bằng kim loại; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 50.000đ do bị cáo bán ma túy mà có.

(Vật chứng đã được công an huyện Đ B chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B ngày 28/02/2020).

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí HSST.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 18/3/2020).

Cỡ chữ