vanban.org

Bản án 49/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 29/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 30/4/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2020/HS-ST
Ngày: 29-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Tư

Bà Dương Thị Phụng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Em - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 54/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Văn D, sinh năm 1974; tại: Tỉnh Trà Vinh; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: Không có, hiện không có nơi cư trú nhất định; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Văn M (chết) và bà Huỳnh Thị D (chết); vợ là Tống Thị Kim L (không có đăng ký kết hôn), bị cáo không có con.

Tiền án: 01 lần vào ngày 09/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/5/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong.

Ngày 16/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong ngày 25/01/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/4/2020 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Phan Hiền Hiếu T, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số C đường C, Phường N, thành phố L, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Tống Thị Kim L, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số C Khóm M, Phường H, thành phố L, tỉnh Vĩnh Long.

Chị Lê Thị Mộng T, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số B Khóm B, Phường C, thành phố L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Văn D là đối tượng đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Do bản thân nghiện ma túy nhưng không có tiền mua ma túy để sử dụng nên vào khoảng 11 giờ ngày 02/02/2020 Trần Văn D điều khiển xe mô tô 64H7– 2074 chạy xung quanh địa bàn Phường B, thành phố Vĩnh Long để tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi ngang tiệm quần áo Sam tại số B đường T, Phường B, thành phố Vĩnh Long do chị Phan Hiền Hiếu T làm chủ, D quan sát thấy trong tiệm không có khách, chỉ có chị T trông coi tiệm nên D dừng xe trước cửa tiệm rồi đi vào trong giả vờ hỏi mua quần áo để chờ khi chị T không để ý thì sẽ tìm tài sản để lấy trộm. Khi vừa bước vào tiệm thì D nhìn thấy trên tay chị T đang cầm điện thoại di động, sau đó chị T để điện thoại lên trên quầy tính tiền, D yêu cầu chị T kiếm dùm cái áo đầm kích cỡ 37-38 cho con gái ở nhà nên chị T đi vào trong tìm áo đầm theo ý của D, khi chị T vừa quay mặt vào trong để tìm thì D nhanh tay lấy cái điện thoại ở trên quầy bỏ vào túi quần phía sau bên trái rồi đi ra ngoài lên xe máy điều khiển xe đi mất. Một lúc sau, chị T quay ra không thấy D đâu nghĩ là khách không mua đồ nữa nên không kiểm tra tài sản, đến khi tìm điện thoại để sử dụng mới phát hiện đã mất trộm. Chị T xem camera trong tiệm thì biết là do D lấy trộm nên đến Công an Phường B, thành phố Vĩnh Long trình báo sự việc.

Sau khi D lấy được điện thoại thì mang đến tiệm điện thoại Vĩnh Phúc tại số F đường H, Phường C, thành phố Vĩnh Long bán cho chị Lê Thị Mộng T được 4.200.000 đồng rồi lấy tiền đi mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số: 09/HĐĐG&TTHS ngày 19/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Vĩnh Long đã kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 256Gb màu vàng, trị giá 19.250.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 53/CT-VKSTPVL ngày 25/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn D mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Phan Hiền Hiếu T giá trị tài sản là 19.250.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 1.900.000 đồng thu giữ của bị cáo, bị cáo còn phải bồi thường 17.350.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 cái áo vải màu xanh, đường chỉ viềng màu trắng, dài tay, phần cổ áo có chữ "MADE BY AKUBA1979" THANK YOU FOLLOW "US 50", áo đã cũ.

Tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô 64H7-2074 giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Long xác minh giải quyết theo thẩm quyền.

Án phí: Buộc bị cáo Trần Văn D nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình đúng như cáo trạng đã nêu và đồng ý với tội danh mà bị cáo bị truy tố. Bị cáo không tham gia tranh luận, trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long và Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn D khai nhận bản thân nghiện ma túy không có tiền mua nên đã đi tìm tài sản để trộm. Khoảng 11 giờ ngày 02/02/2020 tại tiệm quần áo Sam số B đường T, Phường B, thành phố Vĩnh Long, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại Phan Hiền Hiếu T trong việc trông giữ tài sản nên đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 256Gb màu vàng, trị giá 19.250.000 đồng. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố là chính xác.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc giữ gìn, quản lý tài sản. Bị cáo là người có sức khỏe, có khả năng lao động để nuôi sống bản thân nhưng không chí thú lao động mà cố tình chiếm đoạt thành quả lao động của người khác để thỏa mãn cho nhu cầu bản thân. Bị cáo có nhân thân xấu từng nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản nhưng không chịu sửa đổi để trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cho thấy sự xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2018 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích thì lại phạm tội mới. Do đó lần phạn tội này bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo; ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bị cáo bồi thường cho chị Hiếu T giá trị điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 256Gb màu vàng là 19.250.000 đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng:

Đối với 01 (Một) cái áo vải màu xanh, đường chỉ viềng màu trắng, dài tay, phần cổ áo có chữ "MADE BY AKUBA1979" THANK YOU FOLLOW "US 50", áo đã cũ không còn giá trị, bị cáo cũng không có yêu cầu gì nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô 64H7-2074 chị Tống Thị Kim L khai mua năm 2018 nhưng chưa sang tên. Qua xác minh chủ xe là chị Nguyễn Thị Tuyết N, địa chỉ số B khóm M, Phường B, thành phố Vĩnh Long, hiện nay chị N không còn ở địa chỉ trên nên không làm việc được. Vì vậy, cần tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô 64H7-2074 giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Long xác minh giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với chị Lê Thị Mộng T khi mua điện thoại do bị cáo D bán không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Hành vi của T không đủ yếu cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên không bị xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 30/4/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; 585; 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Trần Văn D bồi thường cho bị hại Phan Hiền Hiếu T số tiền là 19.250.000 đồng (mười chín triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) nhưng trừ vào số tiền 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm ngàn đồng) đang bị thu giữ theo biên lai số No 001695 ngày 01/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long. Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại Phan Hiền Hiếu T số tiền là 17.350.000 đồng (mười bảy triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/6/2020 giữa Công an thành phố Vĩnh Long và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long được xử lý như sau:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái áo vải màu xanh, đường chỉ viềng màu trắng, dài tay, phần cổ áo có chữ "MADE BY AKUBA1979" THANK YOU FOLLOW "US 50", áo đã cũ.

Tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô 64H7-2074 giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Long giải quyết theo thẩm quyền.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Văn D nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ