vanban.org

Bản án 49/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng M phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng M 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2020. (Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/5/2020 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng M - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng M phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2020/HS-ST
Ngày: 10-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đào Ngọc Bích.

Ông Nguyễn Đức Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Hoàng M; sinh năm: 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường D, Phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn G (chết) và bà: Hoàng Thị Tuyết L; tiền án: Không; tiền sự: 02 (ngày 13/10/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 10 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng theo Quyết định số 142/QĐ-TA, ngày 03/01/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 10 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 03/QĐ-TA); nhân thân: Không tốt; bị bắt giữ ngày: 18/01/2020.

(Bị cáo có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/Ông Nguyễn Anh D – Sinh năm: 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: xã P, huyện C, TP.HCM.

(Nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an Quận 5)

2/Công an Quận 5, TP.HCM (vắng mặt).

Địa chỉ: 359 đường Trần Hưng Đạo, Phường 10, Quận 5, TP.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 18/01/2020, Tổ công tác 363 - Công an Quận 5 tuần tra trên đường Hùng Vương theo kế hoạch của Công an Thành phố Hồ Chí Minh về đảm bảo trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi đến khu vực nhà thờ Văn Lang, Quận 5 thì Tổ công tác phát hiện Lê Hoàng M và một đối tượng tên N (không rõ lai lịch, địa chỉ) điều khiển xe môtô hiệu Vario không rõ biển số, có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Tuy nhiên, M và N không chấp hành mà tăng ga bỏ chạy. Tổ công tác 363 truy đuổi qua nhiều tuyến đường (từ đường Hùng Vương - Ngô Quyền - Trần Hưng Đạo - Trần Phú - Nguyễn Tri Phương), khi N chở M chạy vào hẻm trên đường Hòa Hảo. Đồng chí Nguyễn Anh D (là thành viên Tổ công tác 363) mặc cảnh phục, điều khiển xe môtô chạy đến chặn trước hẻm số 351 Hòa Hảo, Phường 5, Quận 10. Khi thấy xe của N trong hẻm, đồng chí Nguyễn Anh D ra hiệu lệnh dừng xe nhưng lúc này M đã để xe đụng vào xe môtô đặc chủng làm 02 xe ngã xuống đường. Thấy N bị đồng chí D giữ tay lại, M liền lấy chiếc roi điện do N đưa giữ giùm, giấu trong người ra dí vào bụng đồng chí D. Bị điện giật, đồng chí D buông tay nên N nổ máy xe chạy thoát. Ngay lúc này, các thành viên trong Tổ tuần tra bắt giữ được Lê Hoàng M cùng vật chứng giải giao cho Công an Phường 5, Quận 10. Vụ việc được Công an Phường 5, Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.

Qua xem xét dấu vết trên thân thể của đồng chí Nguyễn Anh D ghi nhận áo cảnh phục Cảnh sát giao thông của anh bị cháy xém 02 lỗ nhỏ ở vùng bụng trái. Do không bị thương tích gì nên đồng chí Nguyễn Anh D có đơn từ chối giám định và không yêu cầu Lê Hoàng M bồi thường dân sự.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố, điều tra đối với Lê Hoàng M về hành vi “Chống người thi hành công vụ”.

Tại bản Kết luận giám định số 316/KLGĐ-TT ngày 03/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận chiếc roi điện nêu trên có tính năng, tác dụng tương tự như công cụ hỗ trợ.

Đối với đối tượng tên Nhân đã có hành vi “Tàng trữ công cụ hỗ trợ”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã tách ra, tiếp tục truy tìm để xử lý Nhân, đồng thời xem xét xử lý hành chính đối với Lê Hoàng M về hành vi “Sử dụng công cụ hỗ trợ”.

Tại Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 11 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Lê Hoàng M về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Lê Hoàng M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình; qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Hoàng M đã có hành vi dùng vũ lực (roi điện) tấn công người thi hành công vụ (Công an) nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ, nên bị cáo Lê Hoàng M bị truy tố và xét xử về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi đó của bị cáo cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính. Ngoài ra bản thân bị cáo có nhân thân không tốt: Ngày 13/10/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 10 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng theo Quyết định số 142/QĐ-TA, ngày 03/01/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 10 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 03/QĐ-T. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về xử lý vật chứng:

Đối với: 01 roi điện màu đen dài 15cm (hiệu 928 Type); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với bản án số: 42/2020/HSST ngày 03/6/2020 của Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt bị cáo Lê Hoàng M 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, do hành vi phạm tội bị xét xử lần này, thực hiện trong khi hành vi phạm tội tại bản án trên chưa bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật, nên không tính là tiền án; nhưng nay bản án này chưa phát sinh hiệu lực pháp luật; do vậy sẽ được tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án khi các bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, trong giai đoạn thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng M phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Hoàng M;

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng M 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2020.

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy: 01 roi điện màu đen dài 15cm (hiệu 928 Type).

(Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/5/2020 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc: Bị cáo Minh chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thị hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ