vanban.org

Bản án 49/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 13/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Quý phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trần Ngọc Quý: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Quý - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Quý phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2020/HS - ST
Ngày: 13/11/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoa;

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Trà Giang – Thư kýTòa án nhân dân

huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Vương Thị Đàm Chuyên – Kiểm sát viên.

Ngày 13/11/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh,tỉnh Phú

Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2020/TLST - HS ngày 23/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2020/QĐXXST – HS ngày 02/11/2020 đối với bị cáo:

Trần Ngọc Quý; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1983;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 2, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn Cao; Con bà: Hoàng Thị Bích Nga; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 02 tiền án:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2014/HSST ngày 30/12/2014 của

TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 16/10/2015 Quý chấp hành xong hình phạt tù. Quý đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự, nhưng đến nay vẫn chưa nộp án phí dân sự 750.000 đồng và nộp khoản tiền bồi thường 15.000.000 đồng cho người bị hại.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2018/HSST ngày 04/05/2018 của

TAND quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 04/5/2018 đã nộp án phí hình sự, ngày 30/05/2019 Quý chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2020. Hiện đang tạm giam tại

Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, có mặt.

Người bị hại: Anh Nguyễn Phương Nam, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu 3

xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Hôm nay, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 12/5/2020, Trần Ngọc Quý, sinh năm 1983, HKTT khu 2, xã

Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đi đến nhà anh Hà Tuấn Anh, sinh năm 1974, HKTT khu 3, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh để chơi rồi ngủ nhờ qua đêm. Đến khoảng 07 giờ ngày 13/5/2020, Trần Ngọc Quý ngủ dậy thì anh Hà Tuấn Anh đã đi làm chỉ lại còn một mình Quý. Quý đi ra khu vực sân nhà anh Anh chơi, lúc này Quý quan sát thấy tại sân nhà anh Nguyễn Phương Nam, sinh năm 1978, hàng xóm giáp nhà anh Hà Tuấn Anh có dựng một chiếc xe môtônhãn hiệu POMUSPACYAN, màu nâu, BKS 19H5-3974 không có người trông coi nên Quý nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Quý trèo qua tường rào nhà anh Nguyễn Phương Nam, đi đến vị trí dựng chiếc xe môtô trên, thấy chìa khóa điện vẫn cắm ở ổ khóa, Quý bật khóa điện rồi nổ máy điều khiển xe môtô đi ra khỏi nhà anh Nguyễn Phương Nam. Quý điều khiển xe đến huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tìm nơi bán xe, nhưng chưa tìm được địa điểm để bán nên Quý đi xe đến gửi nhờ tại nhà anh Giang Văn Lập, sinh năm 1990, HKTT tại thôn Gò Đình, xã Hồng Lạc, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang chờ tìm được nơi bán xe sẽ quay lại lấy. Sau đó Quý rút chìa khóa đúc vào túi quần rồi đi xe ôm về nhà. Trên đường đi về Quý làm rơi chiếc chìa khóa ở dọc đường không xác định được vị trí.

Ngày 09/6/2020 anh Nguyễn Phương Nam đến Công an huyện Phù Ninh

trình báo về việc bị mất trộm chiếc xe môtô BKS 19H5-3974 vào ngày 13/5/2020 như trên. Khi được triệu tập, làm việc tại CQĐT Công an huyện Phù Ninh Quý khai nhận về hành vi trộm cắp của mình như trên. Sau đó Quý bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 22/8/2020 Quý về đầu thú tại Công an huyện Phù Ninh.

Ngày 29/6/2020, CQĐT Công an huyện Phù Ninhđã thu giữ chiếc xe môtô

biển số 19H5-3974 tại nhà anh Giang Văn Lập. Khi Quý gửi nhờ xe ở nhà anh Lập, Quý nhận là xe của Quý, anh Lập không biết đây là xe do Quý trộm cắp mà có.

Tại bản kết luận số 17/KL-HĐĐGTS ngày 16/7/2020 Hội đồng định giá tài

sản trong tố tụng hình sự huyện Phù Ninh kết luận: 01 chiếc xemô tô nhãn hiệu POMUSPACYAN, màu nâu, BKS: 19H5- 3974, màu sơn: Nâu, số máy: FMG02083931; số khung: CG003YVN004731, xe mua mới năm 2002, đã qua sử dụng có giá trị là: 1.500.000 đồng.

Về dân sự: anh Nguyễn Phương Nam đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô,

ngoài ra không có yêu cầu, đề nghị Quý phải bồi thường gì khác.

Như vậy, bị cáo Trần Ngọc Quý đã lợi dụng sơ hở của anh Nguyễn

Phương Nam trong quá trình quản lý tài sản nên đã một mình thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 19H5-3974 mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.

Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Ninh Trần Ngọc Quý đã khai

nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và được chứng minh bằng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 49/CT - VKS ngày 22/10/2020 Viện kiểm sát nhân dân

huyện Phù Ninh đã truy tố bị cáo Trần Ngọc Quý về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 BLHS 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phát biểu quan điểm luận tội, đại diện Viện

kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Quý phạm tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, điều 38 BLHS năm 2015 phạt bị cáo từ: 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2020.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị

cáo do hiện nay bị cáo đang ở cùng bố mẹ đẻ, không có tài sản gì riêng và không có việc làm thu nhập thường xuyên, ổn định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 13/5/2020, lợi dụng sơ hở anh của Nguyễn Phương

Nam, sinh năm 1978, HKTT: Khu 3, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, Trần Ngọc Quý, sinh năm 1983, HKTT: Khu 2, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 19H5-3974 của an Nam có giá trị theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phù Ninh là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Mặc dù giá trị tài sản mà bị cáo Trần Ngọc Quý chiếm đoạt dưới

2.000.000 đồng nhưng do trước đó bị cáo có hai tiền án chưa được xóa án tích trong đó có một tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên lần phạm tội này của bị cáo đã bị VKS Nhân dân huyện Phù Ninh truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 của BLHS năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng dăn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét

xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền sự và có 02 tiền án chưa được

xóa án tích trong đó có một tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, bị cáo được xác định là có nhân thân xấu.

Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo có

hai tiền án chưa được xóa trong đó có một tiền án đã được xác định là tình tiết định tội nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng TNHS là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của

bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã có hai tiền án chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để cải tạo thành công dân tốt mà lại lười lao động, thường xuyên đi lang thang, lợi dụng sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài phục vụ nhu cầu cá nhân. Sau khi trộm cắp tài sản, bị cáo đã bỏ đi khỏi địa phương gây khó khăn cho quá trình điều tra. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội nhận thức được sai lầm của bản thân và cải tạo thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Biên bản xác minh tài sản của Cơ

quan cảnh sát điều tra thì hiện bị cáo đang ở cùng bố mẹ đẻ không có tài sản gì riêng, không có việc làm và thu nhập thường xuyên ổn định. Do đó, HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu

POMUSPACYAN, màu nâu BKS 19H5 – 3974 của anh Nguyễn Phương Nam: Đây là vật chứng của vụ án, quá trình điều tra anh Nam có đơn xin lại nên Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Ninh đã trả lại cho anh Nam xét thấy là phù hợp. Ngoài việc xin nhận lại tài sản anh Nam không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Đối với anh Giang Văn Lập là người đã cho bị cáo gửi nhờ chiếc xe mô

tô BKS19H5 – 3974: Quá trình điều tra xác định anh Lập không biết đây là xe máy do Quý trộm cắp mà có. Sau khi biết đây là tài sản do Quý trộm cắp anh Lập đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Ninh. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý xét thấy là phù hợp.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị

HĐXX kết tội các bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và cũng phù hợp với các quy định của pháp luật vì vậy được chấp nhận.

Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng

của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và Người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp

luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51, điểm h

khoản 1 điều 52; điều 38 BLHS 2015:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Quý phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trần Ngọc Quý: 15 (Mười lăm) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2020.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ vào: Khoản 2 điều 47 BLHS năm 2015; điểm b khoản 3 điều 106;

khoản 2 điều 136, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết do Người bị hại đã

nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Ninh đã trả lại cho anh

Nguyễn Phương Nam 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu POMUSPACYAN, màu nâu BKS 19H5 – 3974, số máy FMG02083931, số khung: CG003YVN004731.

(Theo biên bản về việc trả lại tài liệu, đồ vật ngày 23/9/2020).

* Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án

hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo được quyền kháng

cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ