- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2020/HNGĐ - ST Ngày: 29/9/2020 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Bảo Huyền Trân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng
2. Ông Trần Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/9/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 180/2020/TLST-HNGĐ ngày 12/5/2020 về việc "Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/9/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 180/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:
- Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm: 1974 - Nguyên đơn.
- Bà Lê Thị V, sinh năm: 1981 – Bị đơn;
Cùng trú tại: Số 95 đường Cần Giuộc, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 25/3/2020, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn – ông Nguyễn Ngọc C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi kết hôn với bà Lê Thị V vào năm 2003 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tính và quan điểm sống của chúng tôi không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vả, to tiếng. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người mỗi nơi, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn nếu có kéo dài cũng không có hạnh phúc nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Lê Thị V.
- Về quan hệ con chung: Tôi và bà V có 01 (một) con chung là: Nguyễn Lê Hạ V, sinh ngày 20/4/2004; Ly hôn, tôi sẽ giao cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên và tôi cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng
- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Theo bản tự khai ngày 25/6/2020, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn – bà Lê Thị V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi thống nhất như lời trình bày của ông C về thời gian, điều kiện kết hôn. Trong quá trình chung sống chúng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn, nhưng là những mâu thuẫn thường gặp trong cuộc sống, không có gì lớn. Nay ông C khởi kiện ly hôn, tôi nhận thấy con cái còn nhỏ, tôi vẫn còn yêu thương ông C nên xin đoàn tụ gia đình để cùng nhau chăm sóc gia đình.
- Về quan hệ con chung: Tôi và bà V có 01 (một) con chung là: Nguyễn Lê Hạ V, sinh ngày 20/4/2004. Tôi không đồng ý ly hôn nên không đề cập giải quyết về con cái.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm: Việc Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong quá trình tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án.
Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu là về kinh tế, mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc C đối với bà Lê Thị V là chưa đủ căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Do đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
*Về thủ tục tố tụng:
[1] Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc "Ly hôn" quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
*Về nội dung vụ án:
Ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị V xây dựng gia đình vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, ông C xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương gì đối với bà V và xin ly hôn. Còn bà V thì cho rằng vì bà vẫn còn yêu thương chồng con nên bà có xin được đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái trưởng thành khi có đầy đủ cha và mẹ.
Hội đồng xét xử xét yêu cầu của các đương sự thì thấy: Mối quan hệ hôn nhân chỉ thực sự tồn tại khi cả hai vợ chồng cùng yêu thương, cùng nhau xây đắp gia đình, cïng nhau cã tr¸ch nhiÖm, ch¨m sãc còng nh− t¹o mäi ®iÒu kiÖn cho nhau trong cuéc sèng. Trong quá trình chung sống, ông C và bà V phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không sống cùng nhau, không có sự quan tâm cần thiết. Tuy nhiên, bà V tha thiết xin đoàn tụ và hiện nay bà đang nằm viện điều trị nhiều bệnh. Bà V vẫn mong muốn ông C cho bà một cơ hội để vợ chồng hàn gắn tình cảm. nên cần tạo điều kiện để vợ chồng trở về đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình, chăm lo nuôi dạy con chung là phù hợp với pháp luật. Qua xác minh tại địa phương thể hiện ông C và bà V không có xảy ra mâu thuẫn gì lớn. Xét thấy, bà V xác định tình cảm vẫn còn yêu thương ông C, mâu thuẫn giữa vợ chồng phần lớn xuất phát từ kinh tế gia đình, cuộc sống vợ chồng chưa lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung vẫn có thể kéo dài. Do đó yêu cầu ly hôn của ông C đối với bà V là chưa đủ căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung: Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông C nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí HNGĐ: Ông Nguyễn Ngọc C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc C đối với bà Lê Thị V về việc "Ly hôn, nuôi con chung".
I. Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị V trở về đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình.
II. Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết.
Án phí HNGĐ-ST: 300.000đ ông Nguyễn Ngọc C phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 1925 ngày 11/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ông C đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình.
4. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS Q. Thanh Khê; - UBND p. Tân Chính, q. Thanh Khê; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Huyền Trân |