vanban.org

Bản án 49/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Phước Q và bà Lê Thị Kim A

Tuyên xử: ông Nguyễn Phước Q, sinh năm 1992, được ly hôn với bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1993. Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2014 của UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng cấp ngày 17.6.2014 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Nguyễn Phước Q xin ly hôn với bà Lê Thị Kim A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Phước Q và bà Lê Thị Kim A
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2020/HNGĐ-ST
Ngày 30.12.2020
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Lệ và ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký phiên toà: Ông Khuất Duy Toàn - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thƣ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 368/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30.11.2020, quyết định hoãn phiên tòa số 45/2020/QĐST-HN ngày 15.12.2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước Q, sinh năm 1991. Có mặt

- Bị đơn: Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1993. Vắng mặt

Cùng trú tại: Tổ 64, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Phƣớc Q trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Lê Thị Kim A kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống vợ chồng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm về lối sống và kinh tế , đôi lúc xảy ra xô xát, do mâu thuẩn như vậy nên vợ tôi đã dọn ra ngoài sinh sống từ năm 2019 cho đến nay để một mình tôi nuôi con nhỏ.

Nay tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi ly hôn với Bà Lê Thị Kim A.

-Về con chung: Tôi và Bà Lê Thị Kim A có 01 con chung là Nguyễn Phước N, sinh ngày 10.12.2014. Ly hôn tôi xin nuôi con chung và không yêu cầu bà Kim A cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Phước Q xác nhận không có.

* Bị đơn là bà Lê Thị Kim A không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn ông Nguyễn Phước Q kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn bà Lê Thị Kim A không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

-Về nội dung vụ án: xét thấy về quan hệ hôn nhân mâu thuẫn của ông Nguyễn Phước Q và bà Lê Thị Kim A đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã được UBND phường Hòa Khánh Nam xác nhận nên căn cứ vào Điều 51,56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Phước Q.

Về con chung có 01 con chung là Nguyễn Phước N, sinh ngày 10.12.2014. Nguyện vọng của ông Nguyễn Phước Q xin được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà Lê Thị Kim A cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay con chung đang ở với ông Nguyễn Phước Q nên cần giao con chung cho ông Q nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81,Điều 82, Điều 83 Luật HN&GĐ.

Về cấp dưỡng nuôi con ông Q không yêu cầu nên không xét

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Phước Q xác nhận không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

.Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn ông Nguyễn Phước Q và bà Lê Thị Kim A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 15.12.2020 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn bà Lê Thị Kim A, nhưng bà Lê Thị Kim A vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bà Lê Thị Kim A.

.Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Phước Q và bà Lê Thị Kim A thì thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phước Q và bà Lê Thị Kim A kết hôn 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện

Theo ông Nguyễn Phước Q trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm về lối sống và kinh tế, đôi lúc xảy ra xô xát, do mâu thuẩn như vậy nên bà Lê Thị Kim A đã dọn ra ngoài sinh sống từ năm 2019 cho đến nay một mình ông Nguyễn Phước Q nuôi con nhỏ, trong thời gian đó bà Kim A vẫn thường xuyên về nhà thăm con nhưng không hề có trách nhiệm với con. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông Q đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn với bà Lê Thị Kim A.

Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Kim A không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng điều này thể hiện bà Kim A không có mong muốn đoàn tụ, bỏ mặc cho mâu thuẩn gia đình ngày càng trầm trọng, thể hiện thái độ không tôn trọng pháp luật nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt này.

Theo đơn xác minh tại UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa ông Q và bà Kim A mâu thuẩn như thế nào thì địa phương không rõ nhưng hiện nay ông Q và bà Kim A không còn chung sống với nhau, một mình ông Q nuôi con chung. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Q và bà Kim A đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc ông Q yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật HNGĐ năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Phước Q khai nhận ông và bà Lê Thị Kim A có 01 con chung là Nguyễn Phước N, sinh ngày 10.12.2014. Ly hôn ông Q xin nuôi con chung và không yêu cầu bà Kim A cấp dưỡng nuôi con.

HĐXX thấy việc giao con chung cho người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Từ khi ông Q và bà Kim A không còn chung sống thì ông Q một mình nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Do đó, HĐXX xét thấy cần giao con chung cho ông Q nuôi dưỡng chăm sóc là là đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của cháu và hoàn toàn phù hợp với Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: ông Q không yêu cầu bà Kim A cấp dưỡng nuôi con nên không xét

- Về tài s n chung, nợ chung: ông Nguyễn Phước Q xác nhận không có nên HĐXX không xem xét.

Nếu sau này ông Q và bà Kim A có tranh chấp về vấn đề tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng ông Nguyễn Phước Q phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54,56,58,81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Phước Q và bà Lê Thị Kim A

Tuyên xử: ông Nguyễn Phước Q, sinh năm 1992, được ly hôn với bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1993.

Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2014 của UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng cấp ngày 17.6.2014 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Tuyên: Giao con chung là Nguyễn Phước N, sinh ngày 10.12.2014 cho ông Nguyễn Phước Q trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Phước Q không yêu cầu bà Lê Thị Kim A cấp dưỡng tiền nuôi con

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng tiền nuôi con.

3. Về tài sản chung, về nợ chung: Ông Nguyễn Phước Q khai nhận không có.

4. Về án phí: Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000 đồng ông Q phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0004675 ngày 15.10.2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. Như vậy, ông Q đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ