vanban.org

Bản án 49/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy V. Về tình cảm: Công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy V và anh Nguyễn Văn Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy Vân ly hôn Nguyễn Văn Thắng"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN T
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16-12-2020
V/v “Xin ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN T - TỈNH LONG AN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn H

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Minh T

2. Bà Trần Thị N

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh K- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân T.

Ngày 16 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân T xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 255/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2020 về việc “Xin ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1995 (có mặt)

Nơi ĐKHKTT: ấp Thận Cần, xã BH, huyện Tân T, tỉnh Long An.

Nơi cư trú: ấp Cầu D, xã M, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990 (có mặt)

Cư trú: ấp Thận Cần, xã BH, huyện Tân T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và lời khai của chị Nguyễn Thị Thúy V trình bày: Chị và anh Th tổ chức lễ cưới vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã BH, huyện Tân T, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với gia đình chồng và đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Thận Cần, xã BH, huyện Tân T, tỉnh Long An, vợ chồng sống hạnh phúc được 01 thời gian ngắn đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn tình cảm trầm trọng, nên tình cảm vợ chồng không còn, nên chị xin ly hôn với anh Th.

Về con chung trong thời gian sống với anh Th có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Kh, sinh ngày 12/10/2018 hiện nay đang sống với chị. Nay chị V xin được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không Tòa án yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Th trình bày: Anh và chị V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BH, huyện Tân T, tỉnh Long An năm 2018. Trong thời gian chung sống giữa vợ anh và bên gia đình anh có xảy ra việc hiểu lầm, nên anh có nói chuyện để chị V hiểu nhưng chị V không hiểu dẫn đến mâu thuẫn tình cảm vợ chồng. Nay chị V xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Có 01 con tên Nguyễn Hoàng Kh, sinh ngày 12/10/2018, nếu Tòa án giải quyết ly hôn anh xin được nuôi con, không yêu cầu chị V cấp dưỡng. Trường hợp giải quyết cho cô V nuôi con thì anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Như lời chị V trình bày.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Thúy V và anh Nguyễn Văn Th đăng ký kết hôn ngày 04/6/2018 tại Ủy ban nhân dân xã BH, huyện Tân T, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nay chị V yêu cầu ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về nội dung vụ án:

2.1 Về hôn nhân: Sau khi kết hôn chị V về sống bên gia đình cha mẹ của anh Th tại ấp Thận Cần, xã BH, huyện Tân T, tỉnh Long An, thời gian đầu chị V và anh Th sống hạnh phúc, đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Tại phiên tòa, chị V trình bày anh Th hay nhậu nên không quan tâm đến vợ con, cũng như trong thời gian chung sống giữa chị và anh Th không đồng quan điểm sống, nên cuộc sống vợ chồng không đạt được hạnh phúc. Còn anh Th trình bày do sống chung với cha mẹ của anh nên giữa chị V với mẹ anh có sự hiểu lầm, việc này anh có giải thích cho chị V hiểu nhưng chị V không hiểu, từ đó xảy ra mâu thuẫn tình cảm vợ chồng.

2.2.Xét thấy trong thời gian đầu chị V và anh Th sống hạnh phúc, đến năm 2019 xảy ra mâu thuẫn. Về nguyên nhân, do chị V về sống chung với cha mẹ chồng nên giữa chị V và mẹ chồng trong việc xử sự không được hài hòa với nhau dẫn đến có sự hiểu lầm, phía anh Th cố gắng giải thích để chị V và mẹ anh thông cảm hiểu nhau hơn nhưng mẹ chồng và chị V không hiểu nhau, vì vậy mâu thuẫn giữa mẹ chồng và chị V ngày trầm trọng. Ngoài ra, trong quá trình chung sống giữa chị V và anh Th không được tiếng nói chung và thường bất đồng quan điểm về cuộc sống vợ chồng, nên mâu thuẫn tình cảm giữa chị V và anh Th ngày càng gay gắt, do đó chị V bỏ về cha mẹ ruột sống từ tháng 9 năm 2020 đến nay. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị V và anh Th đồng ý thuận tình ly hôn nên xem là tự nguyện và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị V và anh Th là có cơ sở.

2.3. Về con chung, tại phiên tòa chị V và anh Th thống nhất có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Kh, sinh ngày 12/10/2018. Sau khi chị V bỏ về cha mẹ ruột sống ly thân với anh Th thì chị nuôi cháu Kh đến nay, nên tại phiên tòa chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con, anh Th đồng ý cho chị V nuôi con. Xét thấy chị V và anh Th thỏa thuận với nhau về việc nuôi con chung tên Nguyễn Hoàng Kh là hoàn toàn tự nguyện đúng pháp luật. Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của chị V và anh Th, vì vậy chị V được quyền nuôi con Nguyễn Hoàng Kh, sinh ngày 12/10/2018 là phù hợp.

2.4.Về cấp dưỡng nuôi con, tại phiên tòa chị V yêu cầu anh Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là mỗi tháng 1.500.000đồng, anh Th đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của chị V. Xét thấy, việc chị V và anh Th thỏa thuận với nhau việc cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đồng là hoàn toàn tự nguyện đúng pháp luật. Căn cứ Điều 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận với nhau về cấp dưỡng nuôi con giữa chị V và anh Th, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2021 cho đến khi cháu Kh tròn đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Tại phiên tòa chị V và anh Th trình bày trong thời gian chung sống giữa chị V và Th không có tài sản chung, nên không xem xét.

Về nợ chung: Tại phiên tòa chị V và anh Th trình bày không có nợ chung, nên không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị V phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch; anh Th phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 55, khoản 3 Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy V.

2. Về tình cảm: Công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy V và anh Nguyễn Văn Th.

3.Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy V được quyền nuôi con tên Nguyễn Hoàng Kh, sinh ngày 12/10/2018 (chị V đang nuôi con); anh Nguyễn Văn Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2021 cho đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được quyền ngăn cản.Trường hợp có đơn yêu cầu của cha mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí: Chị V phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch, chuyển 300.000 đồng tạm ứng án phí chị V đã nộp theo biên lai số 0001274 ngày 20/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân T sang thành án phí. Anh Th phải chịu 300.000đồng tiền án phí sơ thẩm cấp dưỡng nuôi con theo quyết định của Tòa án.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Long An;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Tân T;

- Chi cục THADS huyện Tân T;

- Các đương sự;

- Cơ quan đăng ký kết hôn;

- Lưu VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Văn H

Cỡ chữ