vanban.org

Bản án 49/2020/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Tr .

Buộc ông Nguyễn Văn Toàn trả cho ông Trần Văn Tr số tiền vốn gốc là 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng). Kể từ ngày ông Trần Văn Tr có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn T chậm thực hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng khôn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Tr .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:49/2020/DSST
Ngày: 28-7-2020
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A – TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc H .

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn B1.

2. Ông Phan Trọng Nh .

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Tr – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Axét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2020/TLST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2020 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2020/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2020 ngày 02 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn Tr , sinh năm 1963;

Địa chị: ấp Hòa L , xã Bình N1, huyện Z, tỉnh B.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T , sinh năm 1984;

Cư trú tại: Ấp Tân H1 , xã Tân Th , huyện Tân Phú Đ , tỉnh Tiền Giang.

(Ông Tr và ông T xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Trần Văn Tr trình bày:

Ngày 10 tháng 02 năm 2020, ông Trần Văn Tr có cho ông Nguyễn Văn T vay số tiền 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng), vay không lãi suất. Ông T hẹn đến ngày 10 tháng 3 năm 2020 sẽ trả lại số tiền vay cho ông Tr nhưng đến hạn ông T không trả. Ông Tr đã nhiều lần yêu cầu ông T trả nhưng ông Toàn không trả. Ông T cho rằng số tiền này là số tiền cá cược bóng đá hoàn toàn không đúng. Việc ông T trình bày như vậy là nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với ông Tr .

Nay ông Trần Văn Tr yêu cầu ông Nguyễn Văn T trả số tiền 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng), trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Theo Bản tự khai và quá trình tố tụng bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Năm 2019, ông T có tham gia đánh bạc trên mạng do ông Trình tổ chức. Ông T thua bạc với số tiền là 38.000.000đ (Ba mươi tám triệu đồng), ông Tr có bắt ông T viết biên nhận nợ cộng thêm 02 tháng lãi với số tiền là 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng).

Nay với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông T không đồng ý trả vì đây là tiền đánh bạc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ mà các bên đang tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Tr yêu cầu ông Nguyễn Văn T trả số tiền vốn gốc là 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng). Tại bản tự khai ông T có thừa nhận có nợ ông Tr và ký vào biên nhận nợ ngày 10 tháng 02 năm 2020 do nguyên đơn ông Trần Văn Tr cung cấp với số tiền nợ là 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng) nhưng ông T cho rằng đây là số tiền do ông T đánh bạc thua nên nay không đồng ý trả. Ông Tr không thừa nhận tiền ông T vay của ông là tiền thua bạc của ông T . Do đó, Hội đồng xét xử xác định việc ông T còn nợ ông Tr số tiền 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng) là có thật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Tr .

[3] Đối với lời trình bày của ông T cho rằng đây là số tiền ông T thua bạc nhưng ông Trình không thừa nhận việc chơi đánh bạc cùng với ông T nên các bên lời trình bày của ông T không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về lãi suất nguyên đơn ông Trần Văn Tr không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 147, 235 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Tr .

Buộc ông Nguyễn Văn Toàn trả cho ông Trần Văn Tr số tiền vốn gốc là 44.000.000đ (Bốn mươi bốn triệu đồng).

Kể từ ngày ông Trần Văn Tr có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn T chậm thực hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu 2.200.000đ (Hai triệu hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn lại cho ông Trần Văn Tr số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 49386 ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ