- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tú Khôi có ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tú K, phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 49/2019/HSST Ngày: 23/8/ 2019 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HOÀ -TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Chịu.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Hà Trọng Khá – Cán bộ hưu trí.
+ Ông Huỳnh Khắc Hiếu – Cán bộ hưu trí.
* Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thái Phong – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21, 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2019/HSST ngày 12/7/2019 đối với bị cáo:
Huỳnh Tú K (tên gọi khác: Tý K) – sinh ngày 20/01/1987 tại thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiê ̣p: không; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Huỳnh Phú T, sinh năm: 1963 và bà Phạm Thị N, sinh năm: 1963; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 25/11/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 3 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong phần hình phạt tù ngày 10/01/2008; Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 25/01/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 3 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 15/3/2011, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố nên được đình chỉ điều tra. Bị cáo bị bắt, tam giam từ ngày 20/01/2019; Có mặt.
* Bị hại:
1. Ông Nguyễn Bá T – sinh năm 1986; Địa chỉ: Số 05/01 đường L, phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
2. Ông Lê Văn M – sinh năm 1961; Địa chỉ: Số 56B đường L, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Cao Huy V – sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Bảo T – sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Đ – sinh năm 1997; Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
4. Ông Đỗ Văn L – sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu phố C, xã M”D, huyện M”D, tỉnh ĐăkLăk; Vắng mặt.
5. Ông Huỳnh Duy S – sinh năm 1974; Địa chỉ: Số 39 đường H, phường S, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/10/2018, Huỳnh Tú K đi Taxi cùng Nguyễn Bảo T đến Câu lạc bộ King Club thuộc thôn N, xã B, thành phố T chơi thì gặp Nguyễn Bá T. Do có mâu thuẫn từ trước với T nên K lấy 01 khẩu súng tự chế bắn đạn bi đã được giấu sẵn bên ngoài Câu lạc bộ đến bắn nhiều phát vào người T. Do bị bắn bất ngờ từ phía sau nên T bỏ chạy vào bên trong Câu lạc bộ, K tiếp tục cầm súng đuổi theo và tiếp tục bắn vào người T gây thương tích. Khi bị các thanh niên trong Câu lạc bộ King Club dùng ly thủy tinh ném thì K bỏ đi. Sau đó, tại hiện trường phát hiện anh Đỗ Văn L là khách của câu lạc bộ và Nguyễn Đ là nhân viên của câu lạc bộ cũng bị thương nên đưa đi cấp cứu.
Trong quá trình điều tra vụ án trên, đến khoảng 21giờ ngày 03/01/2019, Huỳnh Tú K cùng Nguyễn Bảo T, Nguyễn Thế H, Hồ Sĩ N và Phùng Thị L đến quán Bar T- Lounge ở 270 N, Phường B, thành phố T chơi. Lúc này, tại quán có nhóm Cao Huy V, Lê Văn M và một số thanh niên khác (chưa rõ lai lịch) cũng đang ngồi chơi. Đến khoảng 23giờ cùng ngày, khi đi vào nhà vệ sinh thì giữa Cao Huy V và Nguyễn Bảo T xảy ra mâu thuẫn nên K dùng dao đâm nhiều cái vào người của V nên V bỏ chạy ra ngoài. Thấy V bị K đuổi đánh nên M chạy theo thì bị K dùng dao đâm nhiều cái trúng vào người gây thương tích. K tiếp tục dùng cây súng tự chế bắn đạn bi vào trong quán Bar T- Lounge gây thủng cửa kính.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 332/TgT ngày 29/10/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên, xác định: Thương tích của Nguyễn Bá T là 15%, do hỏa khí gây ra.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 10/TgT ngày 11/01/2019; Kết luận giám định bổ sung số 58/TgT ngày 08/3/2019 và Công văn giải thích kết luận giám định số 21/CVGĐ-2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên, xác định: Thương tích của Lê Văn M là 15%, do vật có cạnh sắc gây ra.
Đối với thương tích của Nguyễn Bảo T; Cao Huy V và Nguyễn Đ cả ba người đều không yêu cầu khởi tố nên không xử lý; Đối với thương tích của Đỗ Văn L có đơn từ chối giám định thương tích và tự nguyện không yêu cầu khởi tố nên không xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 12/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố bị cáo Huỳnh Tú K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm b, c, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố, xin Hội Đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại anh Nguyễn Bá T, anh Lê Văn M đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét, xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Bá T không yêu cầu bị cáo bồi thường; Bị hại anh Lê Văn M yêu cầu bị cáo bồi thường đối với các khoản chi phí bị thiệt hại theo pháp luật, nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh chi phí bị thiệt hại với tổng số tiền cụ thể.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Huỳnh Duy S không có yêu cầu bồi thường phần cửa kính quán Bar T- Lounge bị thủng nên không xử lý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 12/7/2019. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, c, đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Huỳnh Tú K từ 04 năm đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 20/01/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Bá T; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Huỳnh Duy S không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét. Riêng bị hại anh Lê Văn M có yêu cầu bị cáo bồi thường đối với các khoản chi phí bị thiệt hại, nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh với tổng số tiền cụ thể nên chưa đủ cơ sở xem xét giải quyết. Khi nào, anh Lê Văn M có đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh thì được quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 16 viên bi bằng sắt, mỗi viên có đường kính 06mm; 03 mũ diềm vải; 01 áo thun dài tay màu xanh; 01 áo khoác da màu đen; 01 áo jean có mũ; Một số mảnh thủy tinh thu giữ tại hiện trường ngày 21/10/2018 (đã được niêm phong); 03 mẫu chất màu đỏ thẫm thu tại hiện trường ngày 03/01/2019 (đã được niêm phong); 03 khăn lạnh có dính chất màu đỏ thẩm (đã được niêm phong) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2019, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra với Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, vì không còn giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với bản kết luận giám định thương tích, với thời gian, địa điểm và công cụ thực hiện tội phạm, đủ cơ sở xác định: Do có mâu thuẫn từ trước nên khoảng 23 giờ ngày 20/10/2018, tại Câu lạc bộ King Club thuộc thôn N, xã B, thành phố T, Huỳnh Tú K đã dùng súng tự chế bắn Nguyễn Bá T gây thương tích 15% và khoảng 21 giờ ngày 03/01/2019, tại quán Bar T-Lounge ở 270 N, Phường B, thành phố T, Huỳnh Tú K đã vô cớ dùng dao đâm Lê Văn M gây thương tích 15%. Nên hành vi của bị cáo Huỳnh Tú K đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm b, c, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó,Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Huỳnh Tú K về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại các điểm b, c, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với bị cáo Huỳnh Tú K là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, không vì bức xúc bỡi một mâu thuẫn nhỏ từ trước với T mà có hành vi dùng súng tự chế bắn đạn bi sắt xe đạp vào người anh Nguyễn Bá T gây thương tích 15%, dùng dao đâm anh Lê Văn M gây thương tích 15%. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trái pháp luật đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Giữa bị cáo và các bị hại không có mâu thẫn gì lớn, nhưng bị cáo vô cớ dùng súng tự chế và dao là những hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh T, anh M mỗi người 15% là có tính chất côn đồ. Bị cáo Huỳnh Tú K có nhân thân xấu, có 01 tiền án, nhưng bị cáo không chịu sửa chữa lỗi lầm, không tự cải tạo để trở thành người tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo đã phạm tội nhưng chưa được xoá án tích, nên lần phạm tội này là tái phạm. Do đó, cần phải áp dụng các tình tiết định khung hình phạt được quy định tại các điểm b, c, đ khoản 2 Điều 134 và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử lý nghiêm bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, hậu quả mà bị cáo gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lên mức hình phạt, có xem xét đến quá trình nhân thân, thái độ khai báo, khắc phục hậu quả sau khi phạm tội của bị cáo để quyết định mức hình phạt cho phù hợp với hành vi của bị cáo. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tú K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đầu thú và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử giảm mức án cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, an tâm học tập, cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh S không có yêu cầu. Hội đồng xét xử không xét. Riêng bị hại anh Lê Văn M có yêu cầu bị cáo bồi thường đối với các khoản chi phí bị thiệt hại, nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh chi phí bị thiệt hại với tổng số tiền cụ thể nên chưa đủ cơ sở xem xét giải quyết. Khi nào, anh Lê Văn M có đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh thì được quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ vật chứng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2019, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra với Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, vì không còn giá trị sử dụng.
Bò caùo phaûi chòu aùn phí hình söï sô thaåm theo quy ñònh cuûa phaùp luaät.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tú K, phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng các điểm b, c, đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tú K 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tam giam ngày 20/01/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự. Giành quyền cho anh Lê Văn M khởi kiện đối với bị cáo Huỳnh Tú K về bồi thường chi phí bị thiệt hại bằng vụ kiện dân sự khi có yêu cầu.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy 16 viên bi bằng sắt, mỗi viên có đường kính 06mm; 03 mũ diềm vải; 01 áo thun dài tay màu xanh; 01 áo khoác da màu đen; 01 áo jean có mũ; Một số mảnh thủy tinh thu giữ tại hiện trường ngày 21/10/2018 (đã được niêm phong); 03 mẫu chất màu đỏ thẫm thu tại hiện trường ngày 03/01/2019 (đã được niêm phong); 03 khăn lạnh có dính chất màu đỏ thẩm (đã được niêm phong) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2019, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra với Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, vì không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Huỳnh Tú K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên. - VKSND thành phố T. - Công an thành phố T - Chi cục THADS thành phố T. - Bị cáo, các đương sự, - Sở Tư Pháp. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô chịu |