- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BTH - TTB - Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2019/HNGĐ-ST Ngày 15-11-2019 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Hải;
Ông Đào Trọng Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Th Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Th Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 47/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019 và Quyết đ nh hoãn phiên tòa số: 30/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ch BTH; đ a chỉ cư trú: Số 39/151 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh TTB; ĐKHKTT: Thôn D, xã E, huyện F, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: Số 39/151 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04-6-2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ch BTH trình bày:
Ch BTH và anh TTB xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện H, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23, Quyển số 01/2001 ngày 22-9-2001. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và tính cách không phù hợp. Anh TTB không chí thú làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Ch BTH đã nhiều lần động viên anh TTB tìm công việc để cùng ch lo cho gia đình, nuôi dạy các con, hai bên gia đình cũng nhiều lần khuyên bảo nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn gia đình ngày một trầm trọng dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ gia đình nên ch BTH đề ngh Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng giải quyết cho ch được ly hôn với anh TTB theo quy đ nh của pháp luật.
Về con chung: Ch BTH và anh TTB có 02 con chung là I sinh ngày 15-11-2003 và J sinh ngày 15-10-2014. Hiện tại ch BTH đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ch BTH có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh TTB phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Ch BTH không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, b đơn là anh TTB sau khi nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án không đến Tòa án làm thủ tục theo quy đ nh và bỏ đi khỏi đ a phương. Tòa án đã thực hiện các quy trình tố tụng theo quy đ nh của pháp luật nhưng anh TTB không có mặt nên không lấy được lời khai của anh TTB. Mặt khác, anh TTB cũng không gửi bất kỳ văn bản nào đến Tòa án thể hiện quan điểm, yêu cầu của mình đối với việc ch BTH làm đơn ly hôn với anh TTB và đề ngh được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tại Biên bản xác minh ngày 19-6-2019, Công an phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xác nhận: Anh TTB là chồng của ch BTH, có 02 con chung. Anh TTB không đăng ký tạm trú tại số 39/151 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng nhưng vợ chồng anh TTB, ch BTH cùng các con ăn ở ổn đ nh, thường xuyên từ nhiều năm nay tại đ a chỉ trên. Tại Đơn trình bày của bà K (mẹ đẻ ch BTH); Biên bản xác minh bà L (Chi Hội trưởng Chi hội phụ nữ Tổ dân phố M, phường B, quận C) và bà N (Tổ trưởng Tổ dân phố M, phường B, quận C) thể hiện: Trong quá trình chung sống, vợ chồng ch BTH, anh TTB có phát sinh mâu thuẫn, gia đình và Tổ dân phố, Chi hội phụ nữ đã nhiều lần động viên để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn nhưng không có kết quả.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán đã xác đ nh đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự tại phiên tòa đã được thực hiện đúng theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Ch BTH và anh TTB kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện H, thành phố Hải Phòng nên hôn nhân giữa ch BTH và anh TTB là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng ch BTH, anh TTB bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn, anh TTB không chí thú làm ăn, không chăm lo gia đình, không chăm sóc, giáo dục con cái cùng ch BTH, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ch BTH được ly hôn với anh TTB; về con chung: Giao 02 con chung là I sinh ngày 15-11-2003 và J sinh ngày 15-10-2014 cho ch BTH trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết đ nh khác theo quy đ nh của pháp luật; về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Ch BTH không đề ngh Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết; về tài sản chung: Ch BTH không đề ngh Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; về án phí dân sự sơ thẩm: Ch BTH phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
- Về tố tụng:
Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo Đơn khởi kiện và xác nhận nơi cư trú thể hiện ch BTH và anh TTB đều sinh sống ổn đ nh, lâu dài tại số 39/151 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng. Căn cứ các điều 28, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa nguyên đơn là ch BTH với b đơn là anh TTB thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Tại phiên tòa, b đơn là anh TTB mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh TTB.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ch BTH kết hôn với anh TTB trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện H, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23, Quyển số 01/2001 ngày 22-9-2001 nên quan hệ hôn nhận giữa ch BTH với anh TTB là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Ch BTH cho rằng quá trình chung sống, giữa ch và anh TTB phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và tính cách không phù hợp. Anh TTB không chí thú làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Ch BTH đã nhiều lần động viên anh TTB tìm công việc để cùng ch lo cho gia đình, nuôi dạy 02 con; hai bên gia đình cũng nhiều lần khuyên bảo nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn ngày một trầm trọng dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Hiện tại anh TTB đã đi khỏi đ a phương, không còn quan tâm đến gia đình. Qua thực tế nêu trên, anh TTB không còn quan tâm đến vợ, con và không muốn đoàn tụ cùng gia đình. Mặt khác, ch BTH cũng không còn tình cảm với anh TTB. Do vậy, ch BTH làm đơn đề ngh Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xem xét, giải quyết cho ch BTH được ly hôn với anh TTB theo quy đ nh của pháp luật. Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng anh TTB đều vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc, các phiên họp hòa giải cũng như tại phiên tòa. Qua đó đánh giá rằng, anh TTB không có thiện chí và không có biện pháp gì cụ thể để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa ch BTH và anh TTB không đạt được mục đích hôn nhân để xây dựng gia đình hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc ch BTH yêu cầu ly hôn với anh TTB là có căn cứ, phù hợp với thực tế và phù hợp với quy đ nh tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận yêu cầu của ch BTH: Cho ch BTH ly hôn với anh TTB.
Về con chung: Ch BTH và anh TTB có 02 con chung là I sinh ngày 15-11-2003 và J sinh ngày 15-10-2014 hiện nay đang sinh sống cùng ch BTH. Do anh TTB hiện nay không có mặt tại đ a phương nên ch BTH có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh TTB phải cấp dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy việc ch BTH đề ngh được trực tiếp nuôi con chung cho đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi là phù hợp với thực tế do anh TTB hiện tại không có mặt tại đ a phương, bảo đảm quyền và lợp ích hợp pháp mọi mặt cho con chung, phù hợp với quy đ nh tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con do ch BTH không đề ngh Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này các bên có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.
Về tài sản chung: Ch BTH không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Ch BTH phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ch BTH được ly hôn anh TTB.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là I sinh ngày 15-11-2003 và J sinh ngày 15-10-2014 cho ch BTH trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy đ nh của pháp luật.
Anh TTB có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Ch BTH cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh TTB trong việc thăm non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trường hợp anh TTB lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ch BTH có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của anh TTB.
3. Về tài sản chung: Ch BTH không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Ch BTH phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008252, ngày 18-6-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Ch BTH đã đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
B đơn (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hải Phòng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - UBND xã G; - Các đương sự; - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hữu Chung |