- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hồ Thị Mỹ N yêu cầu ly hôn với anh Đăng An S"
- Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2019/HNGĐ-ST Ngày 11/11/2019 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Ng c
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Th
2. Ông Nguyễn Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạ Th Th – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Ngày 11/11/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 408/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2019, về việc: “Tranh chấp h n nhân và gia nh về ly h n” theo uy t đ nh đưa vụ án ra xét xử số 222/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên ơn: Hồ Th Mỹ N, sinh năm 1993.
Đ a ch : p D, xã ĐBK, huyện X, Đồng Tháp.
-
ơn: Đặng An S, sinh năm 1993.
Đ a ch : p MP B, xã MA, huyện X, Đồng Tháp.
(Ch N, anh S có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, lời trình bày của nguyên đơn và tại phiên tòa, ch Hồ Th Mỹ N trình bày: Ch và anh Đặng An S k t hôn với nhau vào năm 2013, nhưng không tìm hiểu trước và có đăng ký k t hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ An, huyện Tháp Mười vào ngày 03/12/1013. Sau khi k t hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, chồng ch có tính cờ bạc, rượu chè, không lo cho vợ con. Vì con ch cố gắng ch u đựng, ch nhiều lần khuyên can anh S, nhưng anh S vẫn không thay đổi mà ngày càng trụy lạc, bê tha và đã nhiều lần đánh ch , từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do ch không ch u đựng được nên tháng 6/2019, ch đã bỏ về nhà cha, mẹ ruột của ch sinh sống. Sau khi ch bỏ về nhà cha mẹ ruột thì anh S nhiều lần đ n ki m chuyện hâm dọa ch , anh S còn dùng dao chém trúng tay mẹ ch . Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, hôn nhân không còn níu kéo được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ch yêu cầu ly hôn với anh Đặng An S.
+ Về quan hệ nuôi con: Có 02 con chung tên Đặng Hồ hước T, sinh ngày 14/10/2014 và Đặng Hồ Hoàng L, sinh ngày 27/3/2016, hiện hước T, Hoàng L đang sống với anh S. Khi ly hôn, ch đồng ý giao hước T cho anh S nuôi dưỡng và ch không cấp dưỡng nuôi con; còn đối với Hoàng L ch yêu cầu được nuôi dưỡng và ch không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
+ Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quy t.
+ Về nợ chung: Không có.
- Tại bản tự khai, lời trình bày của b đơn và tại phiên tòa anh Đặng An S trình bày: Anh thống nhất lời trình bày của ch N về quan hệ hôn nhân, anh và ch N được cha mẹ hai bên tổ ch c đám cưới và có đăng ký k t hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ An. Trong thời gian chung sống vợ chồng c ng có mâu thuẫn nhưng ch là mâu thuẫn nhỏ, anh có uống rượu với bạn bè nhưng anh vẫn đi làm ki m tiền lo cho vợ con, anh ch có đánh vợ anh một bạt tay ch từ trước đ n giờ anh không có đánh vợ. Sau khi vợ bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, anh nhiều lần đ n năn n vợ anh về để hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng vợ anh không đồng ý, anh không có chém mẹ vợ mà do anh ch hù dọa nên vô tình trúng tay mẹ vợ. Nay vợ anh yêu cầu ly hôn anh không đồng ý, vì anh vẫn còn thương vợ, con và muốn hàn gắn tình cảm với ch N.
+ Về quan hệ nuôi con: Thống nhất với lời trình bày của ch N, anh và ch N có 02 con chung tên Đặng Hồ hước T, sinh ngày 14/10/2014 và Đặng Hồ Hoàng L, sinh ngày 27/3/2016, hiện hước T, Hoàng L đang sống với anh. Anh không đồng ý ly hôn, nhưng n u Tòa án cho anh ly hôn thì anh yêu cầu được ti p tục nuôi dưỡng hước T, Hoàng L và anh không yêu cầu cấp dưỡng.
+ Về quan hệ tài sản: Không có.
+ Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn c vào k t quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
Về quan hệ hôn nhân: Ch N và anh S do mai mối nên quen bi t nhau và tự nguyện sống chung với nhau, có đăng ký k t hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ An, huyện Tháp Mười. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, anh S có tính cờ bạc, rượu chè, không lo cho vợ con, ch N nhiều lần khuyên anh S để hàn gắn tình cảm, nhưng anh S không sửa đổi. Từ đó tình cảm vợ chồng không còn như trước, mặc dù ch N cố gắng hàn gắn nhưng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Tại phiên tòa ch N trình bày, ch không còn tình cảm với anh S, việc anh S hù dọa, đánh ch và chém mẹ ch , nên ch không thể nào sống chung với anh S được nữa, ch và anh S đã sống ly thân từ tháng 6/2019 cho đ n nay. Nay, ch N nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn níu kéo được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, ch N yêu cầu ly hôn với anh Đặng An S.
Tại phiên tòa, anh S thừa nhận anh có hù dọa và đánh ch N, ch N đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống khoảng 05 tháng, nhưng anh còn thương vợ và con nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, anh S lại không đưa ra được giải pháp tích cực nào để hàn gắn hạnh phúc gia đình và c ng không có hành động tích cực nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly h n mà hòa giải tại Tòa án kh ng thành th Tòa án giải quyết cho ly h n nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia nh hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho h n nhân lâm vào t nh trạng trầm trọng, ời sống chung kh ng thể kéo dài, mục ích h n nhân kh ng ạt ược”, căn c vào lời trình bày của ch N, anh S tại phiên tòa hôm nay, anh S thừa nhận có đánh ch N, anh S và ch N đều thừa nhận đã sống ly thân với nhau khoảng 05 tháng. Hơn nữa, anh S trình bày cuộc sống vợ chồng c ng xảy ra mâu thuẫn và anh c ng không có giải pháp tích cực nào để hạn ch mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm với ch N. Điều đó cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa ch N và anh S không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và hôn nhân không thể kéo dài. Cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ch Hồ Th Mỹ N với anh Đặng An S.
Về quan hệ nuôi con: Tại phiên tòa, ch N và anh S thống nhất có 02 con chung tên Đặng Hồ hước T, sinh ngày 14/10/2014 và Đặng Hồ Hoàng L, sinh ngày 27/3/2016, hiện hước T, Hoàng L đang sống với anh S.
Khi ly hôn, ch N đồng ý giao hước T cho anh S nuôi dưỡng và ch không cấp dưỡng nuôi con; còn đối với Hoàng L ch N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng và ch không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Anh S không đồng ý ly hôn, nhưng n u Tòa án cho anh ly hôn thì anh yêu cầu được ti p tục nuôi dưỡng hước T, Hoàng L và anh không yêu cầu ch N cấp dưỡng.
Căn c khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy đ nh:
“...2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nu i con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly h n ối với con; trường hợp kh ng thỏa thuận ược th Tòa án quyết nh giao con cho một bên trực tiếp nu i căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ ủ 07 tuổi trở lên th phải xem xét nguyện vọng của con...”
Xét thấy, tại phiên tòa ch N đồng ý giao hước T cho anh S nuôi dưỡng và ch không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung tên hước T cho anh S được quyền ti p tục nuôi dưỡng và anh S không yêu cầu ch N cấp dưỡng nuôi con; còn đối với Hoàng L, mặc dù từ khi vợ chồng ly thân Hoàng L sống chung với anh S, nhưng hiện tại Hoàng L ch mới 03 tuổi 07 tháng 15 ngày và là con gái, nên việc ch N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng Hoàng L là có căn c , do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng Hoàng L của anh S.
Ch N, anh S có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không bên nào có quyền ngăn cấm. Ch N, anh S được quyền thăm nom con không ai được cản trở.
Về quan hệ tài sản: Ch N, anh S thống nhất không có, nên không xem xét.
Về nợ chung: Ch N, anh S thống nhất không có nợ ai, nên không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn c vào khoản 1 Điều 53, 56, 71, 72, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn c vào khoản 1 Điều 48 của Ngh quy t số 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ uốc Hội quy đ nh về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ch Hồ Th Mỹ N được ly hôn với anh Đặng An S.
- Về quan hệ nuôi con: Giao con chung tên Đặng Hồ hước T, sinh ngày 14/10/2014 cho anh Đặng An S được quyền ti p tục nuôi dưỡng và anh S không yêu cầu ch Hồ Th Mỹ N cấp dưỡng nuôi dưỡng nuôi con; và giao con chung tên Đặng Hồ Hoàng L, sinh ngày 27/3/2016 cho ch Hồ Th Mỹ N được quyền nuôi dưỡng và ch N không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Buộc anh S giao con chung tên Đặng Hồ Hoàng L cho ch N nuôi dưỡng.
Ch Hồ Th Mỹ N, anh Đặng An S có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không bên nào có quyền ngăn cấm. Anh S, ch N được quyền thăm nom con không ai được cản trở.
- Về quan hệ tài sản: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí:
Ch Hồ Th Mỹ N phải ch u 300.000 đồng ba trăm nghìn đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ng án phí theo biên lai thu tiền số 0002618 ngày 20/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Ch N đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Ch Hồ Th Mỹ N, anh Đặng An S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quy t đ nh được thi hành án theo quy đ nh tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, b cưỡng ch thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND T nh; - VKSND cùng cấp; - Chi cục THADS Huyện; - UBND xã Mỹ An; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án, Thi). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Văn Ng c |