- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TẠ THỊ H - ĐẶNG VĂN M"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2019/HNGĐ-ST Ngày: 23/7/2019 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Nguyễn Ngọc Duyên.
2- Ông Hà Minh Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đen, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 156/2019/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 5 năm 2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXX-ST, ngày 21 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị H, sinh năm 1970 (có mặt).
2- Bị đơn: Anh Đặng Văn M, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp BA, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 17/10/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Tạ Thị H trình bày và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị và anh Đặng Văn M cưới nhau vào năm 1990, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luạt. Vợ chồng chung sống thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau dẫn đến cự cải, thậm chí anh M còn đánh đập chị từ đó vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh M.
Về con chung: Có 02 đứa con tên Đặng Văn K, sinh năm 1992 và Đặng Thị Ngọc H, sinh năm 1994, hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung: Để vợ chồng tự thỏa thuận mà không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về phần nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản hòa giải ngày 20/6/2019 bị đơn anh Đặng Văn M trình bày: Anh thừa nhận theo lời trình bày của chị Tạ Thị H về hôn nhân, về con chung và nợ chung là hoàn toàn đúng.
Nhưng về mâu thuẫn vợ chồng là do chị H chưa trung thực với anh thậm chí còn tham gia chơi cờ bạc nên anh tức giận đánh chị vài bạc tay, từ đó vợ chồng ly thân cho đến nay.
Theo yêu cầu của chị H thì anh có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung: Để vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Tạ Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã nêu trên. Ngoài ra không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Đặng Văn M vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Đặng Văn M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Đặng Văn M.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M kết hôn với nhau vào năm 1990, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của chị H và anh M là không hợp pháp.
Tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Khoản 1 Điều 14 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M.
Về con chung: Chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M có 02 người con tên Đặng Văn K, sinh năm 1992 và Đặng Thị Ngọc H, sinh năm 1994, hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M tự thỏa thuận mà không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc chị Tạ Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Vậy chị H đã nộp đủ tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 14 và 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điềm a khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M.
2. Về con chung: Chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M có 02 người con tên Đặng Văn K, sinh năm 1992 và Đặng Thị Ngọc H, sinh năm 1994, hiện nay các con đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét.
3. Về tài sản chung: Chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M tự thỏa thuận mà không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Tạ Thị H và anh Đặng Văn M thừa nhận không có nên không xem xét.
5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Tạ Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0001802, ngày 14/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị H đã nộp đủ tiền án phí.
6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị H có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/7/2019). Đối với anh M vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - THADS huyện An Biên; - UBND xã Nam Yên;. - Các đương sự;; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Phạm Thanh Tâm |