- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị M ly hôn ông Trần Văn D"
- Tòa quyết gì? sự năm 2015, các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2019/HNGĐ-ST Ngày: 08-10-2019 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tăng Gô.
2. Ông Lữ Minh Luân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện
Đức Huệ, tỉnh Long An.
Ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2019 về
tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST-HNGĐ
ngày 18 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M - Sinh năm 1980 - Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C,
tỉnh Long An. (Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn D - Sinh năm 1979 - Hộ khẩu thường trú: ấp U, xã B,
huyện C, tỉnh Long An - Chỗ ở hiện nay: ấp I, xã B, huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/8/2019, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn
Thị M trình bày:
Bà và ông Trần Văn D xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn ngày
30/12/2005 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
Chung sống hạnh phúc đến năm 2009 thì xảy ra mâu thuẩn, nguyên nhân do ông D không
lo làm ăn mà ham chơi, rượu chè, ngược đãi bà. Ly thân từ ngày 01/8/2009 cho đến nay.
Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn D.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Ngọc T, sinh ngày 10/02/2001,
hiện đang sống với bà. Khi ly hôn, con chung đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn bà M có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông D vắng mặt tại các
phiên hòa giải và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Trần Văn D, Tòa án nhân dân
huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ông Trần Văn D được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng
ông D không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà M theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Ông D không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật.
Bà Nguyễn Thị M và ông Trần Văn D chung sống có đăng ký kết hôn ngày
30/12/2005 tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông D là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của bà M, Hội đồng xét xử nhận định: Bà M cho rằng vợ
chồng xảy ra mâu thuẩn nguyên nhân do ông D không lo làm ăn mà ham chơi, rượu chè, ngược đãi bà. Ông D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên không có căn cứ xem xét; qua lời trình bày của bà M, Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẩn giữa bà M và ông D đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly thân, tự mỗi người lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó, việc bà M yêu cầu ly hôn với ông D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Con chung tên Trần Thị Ngọc T, sinh ngày 10/02/2001, đã
thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản chung và nợ chung: bà M trình bày không có, không yêu cầu
nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp tách ra giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy:
Bà M là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí
ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bà
M đã nộp đủ án phí.
Ông D không phải chịu tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân
sự năm 2015, các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Trần Văn D.
2. Về nuôi con chung: Con chung tên Trần Thị Ngọc T, sinh ngày 10/02/2001, đã
thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng
án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0004651 ngày 13/8/2019 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà M đã nộp đủ tiền án phí.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ tục
phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được
tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Huệ; - CC. THADS huyện Đức Huệ; - Các đương sự; - UBND xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ (để ghi sổ hộ tịch) - Lưu: hồ sơ vụ án, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Gái |