vanban.org

Bản án 49/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 21/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu D phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

Áp dụng: Khoản 1 điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và điều 38 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt: Lê Hữu D 07 ( bẩy ) thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu Duẩn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu D phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49 /2018/HSST
Ngày 21/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Long Biên

2. Bà Quách Thị Tình

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Văn Tư - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Hàn Văn Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 21/11/2018, tại trụ sở TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2018/HSST ngày 31/10/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2018/HSST- QĐ ngày 09/11/2018 đối với bị cáo:

Lê Hữu D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 03/11/1986, tại thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Khu phố Long Vân, thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Lê Hữu Dũng ( Đã chết ); con bà: Bùi Thị Huệ - Sinh năm 1960; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 26/10/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ( Bản án số 88/2010/HSST ), tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án và đương nhiên được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2018 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Bà Nguyễn Thị Đan – Sinh năm 1959, trú tại: Thôn Chợ, xã Thành Kim, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Văn Quân – sinh năm 1971, trú tại: Thôn 6 – Tân Sơn, xã Thành Kim, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

2. Anh Cao Lai Thanh – sinh năm 1978, trú tại: Thôn 1 – Tân Sơn, xã Thành Kim, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

3. Anh Đỗ Văn Thanh – sinh năm 1971, trú tại: Thôn Chợ, xã Thành Kim, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

4. Anh Đặng Trung Dũng – sinh năm 1989, trú tại: Thôn Chợ, xã Thành Kim, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Ông Trần Văn Thọ – sinh năm 1967, trú tại: Thôn 6 – Tân Sơn, xã Thành Kim, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

2. Anh Trần Văn Sơn – sinh năm 1984, trú tại: Thôn Chợ, xã Thành Kim, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 27/8/2018, Lê Hữu D đi bộ qua chợ Kim Tân thuộc xã Thành Kim, thấy gia đình bà Nguyễn Thị Đan không có người ở nhà D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đi vòng ra phía sau, dùng tay đẩy bung cửa sắt phía sau nhà bà Đan đi vào trong gian bếp lấy một thanh sắt cạy phá khóa cửa chính đột nhập vào bên trong phòng khách tìm tài sản. Tại đây, D đã trộm cắp 01 chiếc nồi áp suất nhãn hiệu Comet, 01 chiếc bếp ga nhãn hiệu Goldsun, 01 chiếc bình ga nhãn hiệu Vạn Long Petro, 01 bộ máy vi tính để bàn, gồm cây máy tính nhãn hiệu Cenco, màn hình nhãn hiệu Aoc 17inch, bàn phím nhãn hiệu Coinanro, tai nghe nhãn hiệu Qinlian và 01 chiếc máy rửa xe nhãn hiệu Lutian LT của gia đình bà Đan. Sau khi trộm cắp được tài sản, D đem chiếc bình ga sang nhà Trần Văn Sơn ở cạnh nhà bà Đan cất giấu; lấy xe đạp của gia đình anh Sơn chở bếp ga, nồi áp suất, bộ máy vi tính và chiếc máy rửa xe đến nhà Trần Văn Thọ ở thôn 6 Tân Sơn, xã Thành Kim cất giấu trong gian nhà ngang, rồi quay lại nhà Sơn trả lại chiếc xe đạp. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, D đem bán chiếc bếp ga và nồi áp suất cho Trần Văn Quân, người xã Thành Kim lấy 400.000 đồng, bán bộ máy vi tính cho Cao Lai Thanh, người xã Thành Kim lấy 1.500.000 đồng. Số tiền này D khai đã sử dụng chơi game bắn cá hết. Chiếc máy rửa xe để tại nhà Thọ, sau đó đã bị Đặng Trung Dũng, người xã Thành Kim đem đi cầm cố cho ông Đỗ Văn Thành, người cùng xã lấy số tiền 600.000 đồng, sử dụng chơi game bắn cá; còn chiếc bình ga, sau khi nghe thông tin về vụ trộm cắp tài sản, Trần Văn Sơn đã tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Đến ngày 31/8/2018, biết không thể trốn tránh được, D đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Thành đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân. Kết quả định giá tài sản xác định, các tài sản trên của gia đình bà Đan tại thời điểm bị D chiếm đoạt có tổng trị giá là 8.465.000 đồng.

Cũng trong quá trình điều tra xác định bị cáo là người có nhân thân xấu, trước đó đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, tính đến thời điểm phạm tội này, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích. Kết quả xác minh về tài sản xác định hiện bị cáo không có tài sản đáng kể.

Về phần Trần Văn Sơn và Trần Văn Thọ, quá trình điều tra xác định anh Sơn và ông Thọ không biết D cất giấu các tài sản trộm cắp được trong nhà mình, anh Sơn cũng không biết việc D lấy và sử dụng chiếc xe đạp của gia đình vào việc phạm tội.

Đối với Trần Văn Quân, Cao Lai Thanh và anh Đỗ Văn Thành, quá trình điều tra xác định khi mua bếp ga, nồi áp suất, bộ máy vi tính và chiếc máy rửa xe, những người này không biết đây là các tài sản do phạm tội mà có, khi biết thông tin về tài sản đã tự nguyện giao nộp các tài sản trên cho Cơ quan điều tra.

Đối với Đặng Trung Dũng là người bán chiếc máy rửa xe cho anh Thành, quá trình điều tra Dũng khai được Nguyễn Quang Hiển, người xã Thành Kim nhờ đi cầm cố, Dũng không biết đây là tài sản do Duẩn trộm cắp mà có. Hiện nay, Nguyễn Quang Hiển đã bỏ đi khỏi địa phương, hiện không xác định được địa chỉ nên Cơ quan điều tra không thu thập được lời khai của Hiển để làm rõ sự việc. Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 bộ máy vi tính để bàn, 01 bộ bếp ga, bình ga, 01 chiếc nồi áp suất, 01 chiếc máy rửa xe và 01 chiếc xe đạp mini (Có đặc điểm như trong biên bản thu giữ).

Quá trình điều tra xác định đây là các tài sản hợp pháp của gia đình bà Nguyễn Thị Đan và anh Trần Văn Sơn, sau khi tiến hành định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả lại các tài sản cho bà Đan và anh Sơn.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Quân, Đỗ Văn Thành cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Riêng Cao Lai Thanh tại cơ quan điều tra yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.500.000 đồng đã bỏ ra mua bộ máy vi tính trộm cắp nêu trên. Tại phiên tòa anh Cao Lai Thanh và anh Trần Văn Quân khai đã nhận đủ số tiền mà bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKSTT ngày 31/10/2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Lê Hữu D về tội “ Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Thạch Thành giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Hữu D từ 7 tháng đến 10 tháng tù, thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đủ tài sản của mình không yêu cầu bồi thường gì thêm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Quân, anh Đỗ Văn Thành, anh Cao Lai Thanh không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

“ Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:”

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Hữu D đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra từ BL số 108 đến BL số 126; lời khai của người bị hại Nguyễn Thị Đan từ BL số 139 đến BL số 157; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ( Cao Lai Thanh từ BL số 171 đến BL số 176, Đỗ Văn Thành từ BL số 165 đến BL số 170, Trần Văn Quân từ BL số 181 đến BL số 186, Đặng Trung Dũng từ BL số 187 đến BL số 189 ); lời khai của người làm chứng ( Trần Văn Thọ từ BL số 161 đến BL số 164, Trần Văn Sơn từ BL số 190 đến BL số 197 ); biên bản đầu thú; kết luận định giá tài sản, cùng với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lê Hữu D vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 27/8/2018, lợi dụng lúc gia đình bà Nguyễn Thị Đan vắng nhà, Lê Hữu D đã lén lút, đột nhập vào nhà trộm cắp bộ bếp ga, bình ga, bộ máy vi tính để bàn, chiếc nồi áp suất và chiếc máy rửa xe của gia đình bà Đan. Tổng giá trị tài sản D chiếm đoạt là 8.465.000 đồng đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện Thạch Thành đã truy tố bị cáo Lê Hữu D là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Đây là vụ án hình sự ít nghiêm trọng do Lê Hữu D thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Đối với Lê Hữu D vào năm 2010 đã bị kết án 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, đến nay lại tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy, cần xét xử bị cáo một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Xét về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có 03 tình tiết giảm nhẹ là “ tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả “, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “ đầu thú “ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo sớm trở về đoàn tụ gia đình trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Quân và anh Cao Lai Thanh đã nhận đủ số tiền bị cáo và gia đình bồi thường. Anh Trần Văn Quân, anh Đỗ Văn Thành và anh Cao Lai Thanh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

. Về phần Trần Văn Sơn và Trần Văn Thọ, quá trình điều tra xác định anh Sơn và ông Thọ không biết D cất giấu các tài sản trộm cắp được trong nhà mình, anh Sơn cũng không biết việc D lấy và sử dụng chiếc xe đạp của gia đình vào việc phạm tội nên hành vi của anh Sơn và ông Thọ không vi phạm pháp luật.

Đối với Trần Văn Quân, Cao Lai Thanh và anh Đỗ Văn Thành, quá trình điều tra xác định khi mua bếp ga, nồi áp suất, bộ máy vi tính và chiếc máy rửa xe, những người này không biết đây là các tài sản do phạm tội mà có, khi biết thông tin về tài sản đã tự nguyện giao nộp các tài sản trên cho Cơ quan điều tra nên hành vi của Trần Văn Quân, Cao Lai Thanh và anh Đỗ Văn Thành không vi phạm pháp luật.

Riêng đối với Đặng Trung Dũng là người bán chiếc máy rửa xe cho anh Thành, quá trình điều tra Dũng khai được Nguyễn Quang Hiển, người xã Thành Kim nhờ đi cầm cố, Dũng không biết đây là tài sản do Duẩn trộm cắp mà có. Hiện nay, Nguyễn Quang Hiển đã bỏ đi khỏi địa phương, hiện không xác định được địa chỉ nên Cơ quan điều tra không thu thập được lời khai của Hiển để làm rõ sự việc. Về vấn đề này, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định là phù hợp pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí h×nh sù s¬ thÈm theo quy định của pháp luật.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện Thạch Thành và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu D phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

- Áp dụng: Khoản 1 điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và điều 38 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt: Lê Hữu D 07 ( bẩy ) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (31/8/2018).

- Án phí: Bị cáo Lê Hữu D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Quân, anh Đỗ Văn Thành và anh Cao Lai Thanh. Vắng mặt người bị hại bà Nguyễn Thị Đan, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Trung Dũng. Bị cáo Lê Hữu D có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Văn Quân, anh Đỗ Văn Thành và anh Cao Lai Thanh được quyền kháng cáo bản án về phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại bà Nguyễn Thị Đan được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Trung Dũng được quyền kháng cáo bản án về phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Công an H. Thạch Thành;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND H. Thạch Thành;

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- Chi cục THA H. Thạch Thành;

- Bị cáo;

- Người bị hại;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ

Phạm Văn Hùng liên quan;

- Lưu HS.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Long Biên

Quách Thị Tình

Phạm Văn Hùng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý Quách Hà Vính

Phạm Văn Hùng

Đề cương xét hỏi

Chủ tọa hỏi bị cáo Cường:

- Bị cáo hãy trình bày cho HĐXX rõ diễn biến những việc xảy ra liên quan đến

hành vi phạm tội của bị cáo vào ngày 07/03/2018?

- Ngày 05/03 bị cáo đi đâu?

- Bị cáo lên nhà ai? Ở đâu?

- Mua gỗ ở đâu?

- Khi đi mang theo những gì

- Bị cáo nói với những người khác như thế nào?

- Bị cáo đã lên Thạch Thành lần nào chưa?

- Mục đích bị cáo đi lên Thạch Thành làm gì?

- Khi lên đến bờ đê bị cáo làm những việc gì?

- Tại vườn cao su bị cáo thấy những gì?

- Bị cáo dắt con trâu ở vị trí nào? Trâu buộc vào thứ gì?

- Khoảng cach giữa chỗ bị cáo ngồi nghỉ so với chỗ Sơn đi đái bao nhiêu m?

- Khoảng cach giữa chỗ cột trâu so với chỗ Sơn đi đái bao nhiêu m?

-

-

 Hỏi bị cáo Sơn:

- Bị cáo đã nghe rõ lời khai của bị cáo Cường chưa?

- Lời khai của bị cáo Cường đúng hay sai?

- Bị cáo có bổ sung gì vào lời khai bị cáo Cường ko? Có ý kiến gì không?

- Khi đi bị cáo mang theo bao nhiêu tiền?

- ............................................................?

- Vị trí bị cáo đi đái cách chỗ cột trâu bao nhiêu m?

- Lúc bị cáo đi đái ngoài Cường ra có ai ở đó không?

- Sao phải đi cách xa nấp chỗ khác đêr ddaissowj trâu nhìn thấy nên ngại à?

- Sao bị cáo có tiền mà phải gọi Nguyên lên đón?

- Các bị cáo có bàn bạc gì với Nguyên ko? Nguyen có biết việc các bị cáo đi ăn

trộm ko?

 Hỏi người bị hại:

- Khi nào thì anh biết mình bị mất tài sản?

- Mất những gì?

- Anh đã nhận lại tài sản của mình chưa?

- Anh có yêu cầu bồi thường gì thêm không?

- Anh có ý kiến gì khác ko ?

Hội thẩm Khắc hỏi bị cáo Huy

- Mục đích bị cáo trộm cắp tài sản là gì?

- Ngoài lần phạm tội này bị cáo đã phạm tội bao nhiêu lần khác rồi?

- Bị cáo nghiện ma túy từ thời gian nào?

- Bị cáo sử dụng ma túy như thế nào?

- Tiền bị cáo sử dụng ma túy bị cáo lấy ở đâu?

- Thu nhập của bị cáo hàng tháng bao nhiêu? Lấy gì để sinh sống hàng ngày?

- Gia đình bị cáo có ai là người có công với cách mạng không?

- Bị cáo xét thấy hành vi của mình là đúng hay sai?

 Hội thẩm Tình hỏi bị cáo Lương

- Đã có lần nào bị cáo bị các cơ quan pháp luật xử lý về hành vi vi phạm pháp

luật chưa?

- Bị cáo làm nghề gì? Thu nhập của bị cáo hàng tháng bao nhiêu?

- Bị cáo nghiện ma túy từ thời gian nào?

- Bị cáo sử dụng ma túy như thế nào?

- Tiền bị cáo sử dụng ma túy bị cáo lấy ở đâu?

- Gia đình bị cáo có ai là người có công với cách mạng không?

- Bản thân bị cáo có thành tích gì đặc biệt không

- Bị cáo xét thấy hành vi của mình là đúng hay sai?

- Bị cáo nhận thức như thế nào về hành vi phạm tội của mình?

Cỡ chữ