vanban.org

Bản án 49/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ từ ngày 31/9/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49 /2018/HS-ST
Ngày 05/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh ng y 10 tháng 4 năm 1964 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 1, ấp ĐN, xã HA, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai; Tạm trú: Ấp TT, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1916 (chết) và bà Trịnh Thị H, sinh năm 1916 (chết); bị cáo có vợ tên Tăng Ngọc Nữ, sinh năm 1968.

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 (Ngày 22/01/2018 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 212/QĐ-XPVPHC bằng hình thức phạt tiền, số tiền 85.000.000 đồng về hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu).

Bị cáo Nguyễn Văn L đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2018 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Tăng Ngọc N, sinh năm 1968; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 12/15D, Lương Định Của, phường BK, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

Bà Phan Thị Th, sinh năm 1954, Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 257, Bùi Ngọc Thu, phường HA, thị xã TDM, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 28/8/2018 bị cáo Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số 61B1-293.55 đi từ xã An Bình đến Thành phố Hồ Chí Minh để mua thuốc điều trị bệnh tim và cao huyết áp cho vợ. Khi bị cáo dừng xe nghỉ tại khu vực trước bến xe Miền Đông, Thành phố Hồ Chí Minh thì có một người đ n ông không biết nhân thân lai lịch đến hỏi bị cáo có mua thuốc lá nhập lậu hiệu Jet với giá 17.700 đồng/01 bao và thuốc lá nhập lậu hiệu Hero với giá 14.700 đồng/01 bao, thấy rẻ nên bị cáo L đồng ý mua 1000 (một ngàn) bao thuốc lá Jet và 500 (năm trăm) bao thuốc lá Hero với tổng số tiền l 25.050.000 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm năm mươi ng n đồng) mục đích l đưa về địa bàn huyện Phú Giáo bán lại cho các tiệm tạp hóa để kiếm lời. Đến 16 giờ cùng ngày khi bị cáo chở thuốc lá mua được về đến địa phận khu phố 3, thị trấn Phước Vĩnh thì bị lực lượng công an bắt quả tang. Tang vật thu giữ của Nguyễn Văn L gồm:

- 1000 (một ngàn) bao thuốc lá điếu hiệu Jet;

- 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu hiệu Hero;

Tất cả số thuốc lá trên đều không rõ nguồn gốc, không có tem nhãn phụ bằng tiếng việt.

- 01 xe mô tô hiệu LEAD biển số 61B1-293.55 do bà Phan Thị Th, sinh năm 1954; Hộ khẩu thường trú: 257, Bùi Ngọc Thu, phường Hiệp An, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu, tháng 01/2018 b Thu đã bán chiếc xe trên cho b Tăng Ngọc N (là vợ của bị cáo L) nhưng chưa l m thủ tục sang tên, bà Nữ không biết bị cáo L dùng chiếc xe trên vào việc phạm tội. Ng y 15/9/2018 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà Nữ. Bà Nữ không có yêu cầu gì thêm.

Cáo trạng số 54/CT-VKSPG ngày 20/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b, khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo L: Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo l lao động chính trong gia đình v phải chăm sóc cho vợ đang điều trị bệnh. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 191, các điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù v đề nghị xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo L cho rằng Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự l đúng người, đúng tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận ngày 28/8/2018 Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số 61B1-293.55 đi từ xã An Bình đến Thành phố Hồ Chí Minh để mua thuốc điều trị bệnh tim và cao huyết áp cho vợ. Khi bị cáo L dừng xe nghỉ tại khu vực trước bến xe Miền Đông, Thành phố Hồ Chí Minh thì có một người đ n ông không biết nhân thân lai lịch đến đề nghị L mua thuốc lá nhập lậu hiệu Jet với giá 17.700 đồng/01 bao và thuốc lá nhập lậu hiệu Hero với giá 14.700 đồng/01 bao, do thấy rẻ nên L đồng ý mua 1000 (một ngàn) bao thuốc lá Jet v 500 (năm trăm) bao thuốc lá Hero với tổng số tiền l 25.050.000 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm năm mươi ng n đồng) mục đích l đưa về địa bàn huyện Phú Giáo bán lại cho các tiệm tạp hóa để kiếm lời. Đến 16 giờ cùng ngày khi bị cáo L chở thuốc lá mua được về đến địa phận khu phố 3, thị trấn Phước Vĩnh thì bị lực lượng công an bắt quả tang.

Như vậy, Cáo trạng số 51/QĐ-KSPG ngày 20/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự l có căn cứ, đúng người, đúng tội v đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nh nước, của các tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo l người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, bị cáo đã thực hiện tội phạm m không nghĩ đến sự trừng phạt của pháp luật, thời gian qua Nh nước ta đã có nhiều chính sách quản lý đối với thuốc lá điếu nhập lậu nhằm kiểm soát thuốc lá trên thị trường, tạo nguồn thu cho ngân sách nh nước và hạn chế việc sử dụng thuốc lá nhằm bảo vệ sức khỏe cho người dân. Bản thân bị cáo có 01 tiền sự ngày 22/01/2018 bị Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính số tiền 85.000.000 đồng về hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, bị cáo chưa chấp hành nộp tiền phạt nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt thật nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội v đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo l lao động chính trong gia đình v phải chăm sóc cho vợ đang điều trị bệnh đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, sớm nhận ra lỗi lầm của mình, an tâm cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Xét thấy, mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo l tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, số thuốc lá điếu nhập lậu 1.500 bao bị thu giữ là vật cấm lưu h nh nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự v điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

- Chiếc xe mô tô hiệu LEAD biển số 61B1-293.55 do bà Phan Thị Th, sinh năm 1954; Hộ khẩu thường trú: 257, Bùi Ngọc Thu, phường Hiệp An, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu, tháng 01/2018 b Thu đã bán chiếc xe trên cho bà Tăng Ngọc Nữ (là vợ của bị cáo L) nhưng chưa l m thủ tục sang tên, bà Nữ không biết bị cáo L dùng chiếc xe trên vào việc phạm tội, ng y 15/9/2018 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà Nữ. Bà Nữ không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ từ ngày 31/9/2018.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ v o các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 v điểm a khoản 2, các điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy 1000 (một ngàn) bao thuốc lá điếu hiệu Jet, 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu hiệu Hero.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/9/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Phú Giáo với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ng y 25/11/2015 v điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc kể từ ng y bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ