- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lâm Văn M và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2018/HS-ST Ngày 14-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thủy
Ông Nguyễn Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Trần Lệnh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Lâm Văn M, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1988 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nguyên làm ruộng; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Sán chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Văn L (đã chết) và bà: Lý Thị V; có vợ Lý Thị X, có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ ngày 30-6-2018, tạm giam từ ngày 05-7-2018 đến ngày 24-9-2018 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.
2. Lâm Văn H, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1995 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nguyên làm ruộng; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Sán chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Văn Đ và bà: Lý Thị D; có vợ Nguyễn Thị N, có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ ngày 30-6-2018, tạm giam từ ngày 05-7-2018 đến ngày 24-9-2018 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt.
3. Hoàng Văn Đ, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1992 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nguyên làm ruộng; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Sán chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn N và bà: Hoàng Thị H; có vợ Lý Thị V, có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983, nghề nghiệp: Làm ruộng. Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
+ Anh Lý Văn U, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
+ Chị Lý Thị X, sinh năm 1989; có mặt.
+ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 2000; có mặt.
+ Anh Lâm Văn T, sinh năm 1996; vắng mặt.
+ Anh Lâm Văn Đ1, sinh năm 1994; vắng mặt.
Cùng có địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28-6-2018 khi Lâm Văn H, Lâm Văn M đang đi xe mô tô chở vợ đi cạo nhựa thông tại xã H, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì nhìn thấy bị hại anh Nguyễn Văn T đi xe mô tô chở một cháu nhỏ đi ngược chiều ra thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Hai người này cho rằng vào khoảng tháng 5/2018, khi họ đang đi cạo nhựa thông trong xã H, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị hại vô cớ đánh họ nên khi nhìn thấy bị hại thì hai người này dừng xe và cùng quay xe lại để đuổi theo đánh bị hại nhưng không đuổi kịp. Vợ của Lâm Văn M là Lý Thị X và vợ của Lâm Văn H là Nguyễn Thị N đã khuyên can và bảo hai người này về nhà bố mẹ đẻ của Lý Thị X. Trên đường về thì Lâm Văn H gọi điện cho Lâm Văn T còn Lâm Văn M bảo Lý Thị X gọi điện thoại cho Hoàng Văn Đ, Lâm Văn Đ1 xuống nhà Lý Văn U để đi hộ tìm bị hại. Khi về đến nhà bố mẹ đẻ của Lý Thị X thì mọi người thấy em trai của Lý Thị X là anh Lý Văn U đang ở nhà. Sau đó Lâm Văn H, Lâm Văn M ngồi uống bia và bảo muốn đi đánh bị hại, vợ của hai người này tiếp tục can ngăn không cho đi. Một lát sau Lâm Văn T, Lâm Văn Đ1 đi xe mô tô đến thì Lâm Văn M, Lâm Văn H lại bảo hai người này cùng đi tìm bị hại nhưng vợ của họ không cho đi. Để cho Lâm Văn H, Lâm Văn M không đi tìm đánh người nên Nguyễn Thị N điều khiển xe máy chở Lý Thị X, Lý Văn U đi với Lâm Văn Đ1 còn Lâm Văn T đi xe một mình ra thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để tìm bị hại hỏi rõ mâu thuẫn giữa hai bên. Sau khi ra đến thị trấn thì Lâm Văn Đ1, Lý Văn U vào quán ngồi uống nước, mọi người còn lại đi vào chợ L. Lúc này tại nhà mẹ đẻ của Lý Thị X thì Hoàng Văn Đ đi xe mô tô đến và ngồi uống bia cùng Lâm Văn H, Lâm Văn M. Trong lúc uống bia thì Lâm Văn H có gọi cho vợ của mình để xem có tìm thấy bị hại không thì được trả lời là không thấy. Đến khoảng hơn 14 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị N có gọi điện thoại cho Lâm Văn H bảo ra ngã 3 thuộc xã N để đổi xe. Biết bị hại muốn về được nhà phải đi qua ngã 3 này nên Lâm Văn H bảo Lâm Văn M đi cùng nếu thấy bị hại quay về thì đánh. Thấy vậy, Hoàng Văn Đ hiểu là hai người này sẽ đi đánh nhau nên đã hỏi và đi cùng. Sau đó Hoàng Văn Đ vào bếp lấy một đoạn cây củi cầm theo đi ra xe máy của mình còn Lâm Văn M chở Lâm Văn H cùng nhau đi ra ngã 3 đường rẽ vào xã N, trên xe của Lâm Văn M khi đó có cài 02 thanh tuýt sắt từ trước. Sau khi đến ngã 3 đường rẽ vào xã N được vài phút thì họ thấy bị hại đi xe máy qua nên cả ba đuổi theo. Khi đuổi đến đoạn đường ngã ba rẽ đi xã V thuộc thôn K, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì thấy bị hại đỗ xe vào mua vải thiều bên đường. Thấy vậy Lâm Văn H cầm thanh tuýt sắt lao vào từ đằng sau đập vào lưng, đập vào đầu đang đội mũ bảo hiểm của bị hại khiến trượt xuống vai và làm rơi mũ bảo hiểm trên đầu xuống đất. Ngay lập tức Lâm Văn M cầm thanh tuýt sắt đập trúng tay phải khiến ví trên tay bị hại đang cầm bị rơi xuống đất, phát tiếp theo đập vào gò má trái của bị hại. Do bị đánh nên bị hại bỏ chạy và bị Lâm Văn M, Lâm Văn H đuổi theo, Lâm Văn H cầm tuýt sắt vụt đuổi theo làm vỡ gương chiếu hậu bên phải xe mô tô của bị hại. Khi thấy bị hại bỏ chạy qua bên đường thì Hoàng Văn Đ đi xe đến tay cầm đoạn cây củi lao vào bị hại nhưng không trúng và bị hại bỏ chạy được vào nhà dân gần đó. Thấy vậy, Lâm Văn M quay lại dùng thanh tuýt sắt đập 02 phát làm vỡ ốp sườn bên phải xe mô tô của bị hại. Được khoảng 10 phút không thấy bị hại quay ra nên các bị cáo đi xe quay về nhà, trên đường về thì thấy Lâm Văn T đi xe máy ngược chiều lại, Lâm Văn H đã nói về việc vừa đánh bị hại xong và đưa thanh tuýt sắt cho Lâm Văn T cầm. Sau đó Lâm Văn T đi xe vào hướng xã X để bơm xăng, Lý Văn U đi xe mô tô phía sau cũng đi cùng để bơm xăng xe. Tiếp đó, ba bị cáo đã gặp Lâm Văn Đ1 chở Lý Thị X, Nguyễn Thị N về đến, Lâm Văn H đã nói về việc đã đánh được bị hại rồi cả nhóm quay về nhà Lý Văn U. Bơm xăng xe xong hai người này đi đến nơi xảy ra đánh nhau, Lý Văn U đẩy đổ xe mô tô làm vỡ gương chiếu hậu bên trái và lấy thanh tuýt sắt đang ở xe của Lâm Văn T vụt 02 phát làm vỡ đèn hậu, vỡ chắn bùn phía sau xe bị hại rồi vứt thanh tuýt sắt vào bờ tường gần đó và cùng Lâm Văn T quay về nhà Lý Văn U tiếp tục ngồi uống bia với các bị cáo. Sau khi bị các bị cáo gây thương tích bị hại anh Nguyễn Văn T phải nhập viện để điều trị vết thương.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 228/2018/TgT ngày 10-8-2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn căn cứ Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 kết luận tỷ lệ thương tích đối với Nguyễn Văn T: Sẹo vết thương gò má trái, tỷ lệ: 11%.
Kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 7 năm 2018 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn xác định giá trị tài sản đối với các bộ phận bị hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 12L1-10164 thuộc sở hữu của bị hại có tổng giá trị thiệt hại là 870.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 48/CT-VKSLB, ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội Cố ý gây thương tích và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ phạm tội Cố ý gây thương tích. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, 17, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, 17, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết xong nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 02 thanh kim loại dạng ống và 01 đoạn cây củi. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi cố ý gây thương tích của mình đối với anh Nguyễn Văn T như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H đã tác động gia đình để gia đình bồi thường cho bị hại tổng số tiền 50.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới trong việc bồi thường thiệt hại cho bị hại. Các vật chứng đang còn bị thu giữ các bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị hại anh Nguyễn Văn T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thể hiện: Khoảng gần 15 giờ ngày 28-6-2018 tại đoạn đường ngã ba rẽ đi xã V thuộc thôn K, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn khi anh đang đỗ xe mô tô để mua vải thiều thì bị các bị cáo dùng ống tuýt sắt đập vào đầu, vào cánh tay phải và má trái gây thương tích cho anh với tỷ lệ thương tích là 11%. Sau khi sự việc xảy ra gia đình bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H đã đến thăm hỏi, bồi thường thiệt hại về sức khỏe, bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô với tổng số tiền là 50.000.000 đồng. Nay anh không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm, anh đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho cả ba bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lý Thị X, chị Nguyễn Thị N tại cơ quan điều tra và phiên tòa đã trình bày: Chiều ngày 28-6-2018, họ đã nhiều lần đứng ra căn ngăn chồng của mình là bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H về việc các bị cáo muốn đi tìm bị hại Nguyễn Văn T để đánh nhau. Họ không tham gia bàn bạc, không tham gia đánh bị hại; hành vi đập phá xe mô tô của bị hại ra sao họ cũng không hề biết và không tham gia.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lâm Văn T, Lâm Văn Đ1, Lý Văn U tại cơ quan điều tra và đơn đề nghị xét xử vắng mặt đã trình bày: Khoảng hơn 13 giờ 30 phút ngày 28-6-2018 anh Lâm Văn T, Lâm Văn Đ1 có đến nhà Lý Văn U theo điện thoại của Lâm Văn H và Lý Thị X. Tại đây các anh được biết trước đó Lâm Văn H, Lâm Văn M khi đi cạo nhựa thông đã vô cớ bị bị hại Nguyễn Văn T đánh nên Lâm Văn H và Lâm Văn M muốn tìm bị hại để đánh lại. Chưa nắm rõ sự việc thế nào và cũng không biết mặt bị hại nên các anh đã cùng Lý Thị X, Nguyễn Thị N đi xe ra thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để tìm bị hại hỏi rõ về nguyên nhân mâu thuẫn. Khi ra đến thị trấn thì Lâm Văn Đ1, Lý Văn U vào quán ngồi uống nước còn mọi người đi vào chợ L. Sau đó một lúc thì Lý Văn U lấy xe đi đâu đó nên Lâm Văn Đ1 đi vào chợ và gặp Lý Thị X, Nguyễn Thị N nên quay về nhà cùng với hai người này. Trên đường về thì Lâm Văn T, Lý Văn U đã gặp ba bị cáo và biết được họ vừa đánh bị hại đồng thời Lâm Văn H đưa thanh tuýt sắt cho Lâm Văn T cầm. Một lát sau Lâm Văn Đ1 chở Lý Thị X, Nguyễn Thị N gặp Lâm Văn H thì mới biết các bị cáo vừa đánh bị hại, sau đó cả nhóm quay về nhà Lý Văn U. Còn Lý Văn U, Lâm Văn T đi bơm xăng xe và cùng nhau đến nơi xảy ra đánh nhau thấy xe mô tô của bị hại đỗ ở đường nên Lý Văn U đã đẩy đổ xe làm vỡ gương chiếu hậu bên trái và lấy thanh tuýt sắt ở xe của Lâm Văn T vụt 02 phát làm vỡ đèn hậu, vỡ chắn bùn phía sau xe bị hại và vứt thanh tuýt sắt vào bờ tường gần đó rồi cùng Lâm Văn T quay về nhà Lý Văn U.
Lời nói sau cùng của các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ: Các bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, các bị cáo xin lỗi bị hại và xin được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lâm Văn T, anh Lâm Văn Đ1, anh Lý Văn U có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y về thương tích; phù hợp với thương tích để lại trên mặt của bị hại và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; do đó có căn cứ xác định: Khoảng hơn 14 giờ 30 phút ngày 28-6-2018 tại đoạn đường ngã ba rẽ đi xã V thuộc thôn K, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ đã đánh và gây thương tích cho anh Nguyễn Văn T, cụ thể: Bị cáo Lâm Văn H cầm thanh tuýt sắt đập một phát vào lưng, đập một phát vào đầu trúng mũ bảo hiểm nên trượt xuống bả vai anh bị hại; bị cáo Lâm Văn M cầm thanh tuýt sắt đập một phát vào tay phải và một phát vào má trái của bị hại; bị cáo Hoàng Văn Đ cầm đoạn cây củi lao theo đập bị hại nhưng do bị hại kịp bỏ chạy nên không trúng vào người, mức độ tổn thương cơ thể của bị hại là 11%. Hành vi dùng ống tuýt sắt (thanh kim loại dạng ống) và đoạn cây củi gây thương tích cho bị hại của các bị cáo thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ phạm tội Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi gây thương tích của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người có năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Đây là một vụ án hình sự mang tính chất đồng phạm giản đơn do nhiều bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm. Các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra và cùng phải chịu một chế tài do điều luật đó quy định, xong về nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến bị cáo nào thì áp dụng đối với riêng bị cáo đó.
Nguyên nhân xảy ra vụ việc là do Lâm Văn H, Lâm Văn M cho rằng tháng 5/2018 họ đã bị anh Nguyễn Văn T vô cớ đánh, sau khi bị đánh Lâm Văn H, Lâm Văn M không đến cơ sở y tế để điều trị và không trình báo với cơ quan có thẩm quyền còn anh Nguyễn Văn T không thừa nhận có sự việc này. Sau đó, Lâm Văn H, Lâm Văn M đã gặp lại bị hại nên đã tìm cách để đánh lại, mặc dù đã được can ngăn nhưng hai bị cáo đã rủ thêm Hoàng Văn Đ đi đánh bị hại. Thương tích của bị hại do Lâm Văn H, Lâm Văn M gây ra nên hai bị cáo này là người khởi xướng, đóng vai trò chính. Mặc dù không quen biết, không có có mâu thuẫn với bị hại xong Hoàng Văn Đ đã tiếp nhận ý trí cùng các bị cáo cố ý gây thương tích cho bị hại nhưng với vai trò thứ yếu hơn.
Tại phiên toà hôm nay cũng như trong quá trình điều tra ba bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ba bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo Lâm Văn H, Lâm Văn M đã tác động để gia đình khắc phục hậu quả, chi phí điều trị, bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại nên hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo đều có xuất thân từ thuần nông (làm ruộng), là người dân tộc Sán chỉ; đều thuộc diện hộ nghèo, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng quyền trợ giúp pháp lý theo quy định; các bị cáo trình độ văn hóa không cao, đều chưa học hết lớp 9; đều chưa từng có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho cả ba bị cáo được hưởng án treo; bị cáo Lâm Văn M có ông nội là người có công với cách mạng. Nên cả ba bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú (có xác nhận của chính quyền địa phương); các bị cáo đều có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong thời gian tại ngoại vừa qua không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xét thấy không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách. Giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi đang cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp với mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo. Đề nghị này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Lý Thị X, Nguyễn Thị N, Lý Văn U, Lâm Văn T, Lâm Văn Đ1 có tham gia đi tìm bị hại để hỏi rõ mâu thuẫn giữa bị hại và Lâm Văn M, Lâm Văn H; những người này không tham gia bàn bạc, không tham gia đánh bị hại. Việc các bị cáo đánh bị hại thì những người này đều không hề biết trước nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với những người này là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị hại Nguyễn Văn T trong quá trình bị đánh đã bị rơi chiếc ví bên trong có một số giấy tờ và tiền. Chiếc ví này đã được người dân nhặt được và giao lại cho Cơ quan điều tra trả lại cho bị hại với đầy đủ giấy tờ và số tiền bên trong ví. Bị hại cũng không có ý kiến gì thêm về vấn đề này.
Đối với Lâm Văn M, Lâm Văn H, Lý Văn U làm hư hỏng một số bộ phận chiếc xe mô tô 12L1-10164 của bị hại có giá trị bị thiệt hại là 870.000 đồng. Trong quá trình điều tra các đối tượng đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, đồng thời bị hại cũng không yêu cầu hay đề nghị gì về hành vi làm hư hỏng tài sản. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự mà đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Gia đình Lâm Văn M, Lâm Văn H đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại, nay bị hại không yêu cầu 03 bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường gì thêm. Ngoài ra, Lâm Văn M, Lâm Văn H không yêu cầu Hoàng Văn Đ phải có trách nhiệm trong việc bồi thường thiệt hại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Hiện còn đang thu giữ 01 thanh kim loại dạng ống, chiều dài 92cm, đường kính 2,5cm; 01 thanh kim loại dạng ống, chiều dài 64,5cm, đường kính 2,2cm, màu trắng bạc; 01 đoạn cây củi có chiều dài 87cm, đường kính 04cm. Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét thấy: Đây là các là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo bị kết án nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lâm Văn H, Lâm Văn M.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hoàng Văn Đ.
Căn cứ khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ phạm tội Cố ý gây thương tích.
2. Hình phạt:
Phạt bị cáo Lâm Văn M 24 (hai mươi tư) tháng tù; cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 14-11-2018.
Phạt bị cáo Lâm Văn H 24 (hai mươi tư) tháng tù; cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 14-11-2018.
Phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù; cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 14-11-2018.
Giao các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ cho Uỷ ban nhân dân xã N, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dạng ống, chiều dài 92cm, đường kính 2,5cm; 01 thanh kim loại dạng ống, chiều dài 64,5cm, đường kính 2,2cm, màu trắng bạc; 01 đoạn cây củi có chiều dài 87cm, đường kính 04cm.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22 tháng 10 năm 2018).
4. Án phí: Các bị cáo Lâm Văn M, Lâm Văn H, Hoàng Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND h. Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - Công an h. Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHSCA h.L, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS h. L, tỉnh Lạng Sơn; - ……………….; - Bị cáo, bị hại, người CQLNVLQ; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hoa |