vanban.org

Bản án 49/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Thu V đối với anh Trần Quốc L Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị Thu V với anh Trần Quốc L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Vân với anh Linh"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 49/2018/HNGĐ-ST
Ngày 29/6/2018
V/v tranh chấp:“ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Hoàng Mai

2. Ông Đặng Hữu Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Bích – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 43/2018/TLST–HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2018, về việc tranh chấp: “Ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/5/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Thu V, sinh năm 1978 (Có mặt)

Hộ khẩu thường trú: khóm TQ, phường MQ, thành phố LX, tỉnh AG.

2. Bị đơn: Anh Trần Quốc L, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: khóm TQ, phường MQ, thành phố LX, tỉnh AG.

Nơi ở hiện nay: khóm TQ, phường MQ, thành phố LX, tỉnh AG.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn chị Đoàn Thị Thu V trình bày: Chị và anh Trần Quốc L tự quen biết, được cha mẹ hai bên chấp nhận. Năm 1997, anh chị tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, chị và anh L có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân phường MQ cấp ngày 06/10/2008, đây là hôn nhân lần thứ nhất của anh chị. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2001 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân do anh Trần Quốc L có quan hệ với người phụ nữ khác ở bên ngoài, thỉnh thoảng dùng bạo lực đánh đập chị và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị, chị đã hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quốc L.

+ Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 29/6/1998 hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động do đó chị không có yêu cầu Tòa án giải quyết đối với quan hệ con chung.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp, tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Phần trình bày của bị đơn anh Trần Quốc L: Vắng mặt suốt trong quá trình giải quyết đối với vụ án nên không có ý kiến trình bày

Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh Trần Quốc L được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không tham dự phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa chị Đoàn Thị Thu V với anh Trần Quốc L, về quan hệ con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động và về quan hệ tài sản chung, nợ chung không không xét đến do các đương sự không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Quốc L mặc dù được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng anh L vẫn không tham dự phiên tòa nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Chị Đoàn Thị Thu V khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Quốc L đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

Về quan hệ hôn nhân: Năm 1997, chị V và anh L tự tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân. Hôn nhân giữa hai bên trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường MQ, thành phố LX, tỉnh AG theo giấy chứng nhận kết hôn số 101/KH.MQ, quyển số 01/2008, cấp ngày 06/10/2008. Theo chị V trình bày vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đến năm 2001 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân do anh Trần Quốc L có quan hệ với người phụ nữ khác ở bên ngoài, thỉnh thoảng dùng bạo lực đánh đập chị và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị.

Tại phiên tòa, chị V xác định chị đã nhiều lần suy nghĩ nhưng tình cảm vợ chồng chị khó hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn và tại phiên tòa hôm nay, chị V vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh L, trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù anh L được tống đạt các văn bản nhưng anh L không đến và cũng không có ý kiến đối với việc chị V xin ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy, trong cuộc sống hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện chị V không đồng ý tiếp tục chung sống cùng với anh L, còn anh L không có ý kiến trình bày, hôn nhân giữa chị V với anh L không còn tồn tại trên thực tế từ năm 2017 cho đến nay, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ với nhau, cũng như không có giải pháp nhằm hàn gắn, duy trì cuộc hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Thị Thu V với anh Trần Quốc L.

Về con chung: Nguyên đơn chị V trình bày và cung cấp giấy khai sinh thể hiện giữa chị và anh L chung sống với nhau có 01 con chung tên Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 29/6/1998 hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động do đó chị V không có yêu cầu Tòa án giải quyết đối với quan hệ con chung và anh L không có ý kiến yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị V trình bày không tranh chấp, tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng anh L vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị V phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 143; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 186; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 232; khoản 1 Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57 và Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Thu V đối với anh Trần Quốc L

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị Thu V với anh Trần Quốc L.

2. Về nuôi con chung: Chị V và anh L có 01 con chung tên Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 29/6/1998 đã trưởng thành và có khả năng lao động Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm:

4.1. Chị V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004916 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 15/01/2018. Chị V đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4.2. Anh L không phải nộp tiền án phí sơ thẩm.

Chị V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng, anh L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư ngụ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ