vanban.org

Bản án 49/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Bích L.

Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Bích L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T. Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 19/12/2005. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Bích L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 49/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10/4/2018
V/v “tranh chấp về Hôn nhân và
gia đình - ly hôn”

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Th àn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG h phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Hân Em

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Quốc Hùng.

2. Ông Nguyễn Thành Phước.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: không tham gia.

Trong ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 411/2017/TLST-HNGĐ ngày 01/12/2017 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/3/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Huỳnh Thị Bích L, sinh năm 1984 (có mặt).

Địa chỉ: ấp An Thành, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Đông Sơn 2, thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 17/11/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bích L trình bày: Tôi và anh T tiến đến hôn nhân vào năm 2005, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang ngày 18/4/2005. Sau khi kết hôn, chúng tôi sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc. Mặc dù tôi đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T vẫn không thay đổi. Đến tháng 6/2016, do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt nên tôi đã dẫn cháu T về nhà cha mẹ tôi sinh sống cho đến nay. Thời gian sống ly thân, anh T không đến thăm nom con và cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về quan hệ con chung: chúng tôi có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 19/12/2005. Sau khi ly hôn, tôi yêu cầu được nuôi cháu T, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có.

Về phía bị đơn anh Nguyễn Thanh T: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh T, nhưng anh đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Thanh T có địa chỉ tại ấp Đông Sơn 2, thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Thanh T để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập, anh T đều vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về nội dung: chị Huỳnh Thị Bích L với anh Nguyễn Thanh T chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, được UBND xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 32, quyển số I/2005, ngày 18/4/2005. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét, yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Bích L: chị L với anh T chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Đến năm 2014 xảy ra mâu thuẫn, chị L cho rằng anh T thường xuyên cờ bạc, không quan tâm đến vợ, con nên từ đó dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng trong đời sống hôn nhân và đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Về phía anh T, kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T, tạo điều kiện cho anh hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị L. Tuy nhiên, anh T không đến tham gia các phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị L. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị L với anh T mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Bích L.

Về quan hệ con chung: chị L với anh T con 01 chung tên Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 19/12/2005. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi cháu T, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của các con chưa thành niên; cháu T đang sống chung với chị L và được học hành ổn định. Đồng thời, tại biên bản lấy lời khai ngày 27/12/2017 thì nguyện vọng của cháu T muốn được sống với chị L. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu T, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L; giao cháu T cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết thì chị L, anh T có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Do chị Huỳnh Thị Bích L yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Bích L.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Bích L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 19/12/2005.

+ Giao cháu Nguyễn Thị Thùy T cho chị Huỳnh Thị Bích L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu T đang sống chung với chị L).

+ Anh Nguyễn Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về quan hệ tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: ghi nhận chị Huỳnh Thị Bích L xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Huỳnh Thị Bích L và anh Nguyễn Thanh T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí sơ thẩm: chị Huỳnh Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000810 ngày 01/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ