- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Vi phạm quy Đ về điều khiển phương tiện Go thông đường bộ”.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2017/HSST Ngày 11/9 /2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM Đ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Tiến Triển;
2. Bà Trần Thị Phượng.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham G phiên tòa: Ông
Phạm Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2017/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Hoàng Minh T, sinh năm 1986.
Nơi cư trú: Tổ dân phố số 12, thị trấn Z, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ; nghề
nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; con ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1945; con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1947 (đã chết năm 2007), mẹ kế Phạm Thị N, sinh năm 1964; G đình có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ 5; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 11/7/2017 đến ngày 20/7/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1960
Địa chỉ: Xóm 5, xã K, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại:
+ Bà Trần Thị L, sinh năm 1961
Địa chỉ: Xóm 5, xã K, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ.
+ Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1986
Địa chỉ: Xóm 5, xã K, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ.
- Người làm chứng:
+ Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1967
Địa chỉ: Tổ dân phố số 6, thị trấn X, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ.
+ Ông Tạ Văn G, sinh năm 1955
Địa chỉ: Tổ dân phố số 20, thị trấn Z, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ.
+ Ông Trần Công Đ, sinh năm 1956
Địa chỉ: Xóm 5, xã C, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ.
+ Anh Trần Xuân R, sinh năm 1977
Địa chỉ: Xóm 17, xã Q, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ.
(có mặt bị cáo, bà L, anh K; vắng mặt anh L, ông G, ông Đ, anh R).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tắm tắt như sau:
Hoàng Minh T có giấy phép lái xe hạng E, là lái xe cho công ty vận tải
Hoàng L. Khoảng 9 giờ 10 phút ngày 11/7/2017, T điều khiển xe ô tô khách hiệu SAMCO 29 chỗ ngồi biển kiểm soát 18B – 019.22 đi trên quốc lộ 21 hướng từ thị trấn X đến thị trấn Cồn. Khi đi đến khu vực xóm 17 xã Q, T điều khiển xe lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều để vượt xe phía trước nên đã xô vào xe mô tô BKS 18H1- 218.51 do ông Nguyễn Văn C điều khiển đi ngược chiều phía sau chở vợ là bà Phạm Thị L. Hậu quả, ông C chết trên đường đi cấp cứu, bà L bị thương nhẹ, xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng nhẹ. Sau đó T đã đến Công an huyện Hải Hậu đầu thú và khai nhận L bộ hành vi phạm tội.
Tại bản kết luận số 37/17/TT ngày 17/7/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh
Nam Đ kết luận: Ông Nguyễn Văn C chết do đa chấn thương: Chấn thương cổ. Gãy đốt sống C1 và C2.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, bị cáo và công ty vận tải Hoàng L đã tự nguyện thoả thuận bồi thường cho G đình ông C số tiền 100.000.000đ. Bà L và anh Nguyễn Văn K đại diện hợp pháp cho ông C không yêu cầu gì về dân sự và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 21/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Hải Hậu truy tố bị cáo T về tội “Vi phạm quy Đ về điều khiển phương tiện Go thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh
luận: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người bị hại và những người làm chứng cùng các tài liệu điều tra mà Cơ quan điều tra đã thu thập được thì bị cáo T tuy đã có giấy phép lái xe nhưng đã điều khiển xe lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều và xô vào xe mô tô do ông C điều khiển khiến ông C tử vong. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết Đ truy tố đối với bị cáo T về tội “Vi phạm quy Đ về điều khiển phương tiện Go thông đường bộ“ và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời Gn thử thách gấp đôi kể từ ngày tuyên án. Go bị cáo cho UBND thị trấn Z, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đ giám sát giáo dục trong thời Gn thử thách.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi “Vi phạm quy Đ về điều khiển phương tiện Go thông đường bộ” như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo công nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và thực sự ăn năn hối lỗi.
NHẬN Đ CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Đ như sau:
Về hành vi, quyết Đ tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy Đ của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người đại diện hợp pháp cho người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết Đ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết Đ tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà được chứng minh phù hợp với các
chứng cứ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, bản kết luận giám Đ pháp y, lời khai người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu khác lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hoàng Minh T có giấy phép lái xe hạng E là lái xe cho Công ty vận tải Hoàng L. Khoảng 9 giờ 10 phút ngày 11/7/2017, T điều khiển xe ô tô khách hiệu SAMCO 29 chỗ ngồi biển kiểm soát 18B-019.22 đi trên quốc lộ 21 hướng từ thị trấn X đến thị trấn Cồn. Khi đi đến khu vực xóm 17, xã Q, T điều khiển xe lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều để vượt xe phía trước nên đã xô vào xe mô tô BKS 18H1-218.51 do ông Nguyễn Văn C điều khiển đi ngược chiều phía sau chở vợ là bà Phạm Thị L. Hậu quả, ông C chết trên đường đi cấp cứu, bà L bị thương nhẹ, xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng nhẹ.
Hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy Đ về điều khiển phương tiện Go thông đường bộ” theo quy Đ tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước Toà án nhân dân huyện Hải Hậu để xét xử với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo thì
thấy: Bị cáo do không chấp hành nghiêm chỉnh các quy Đ của pháp luật về an L Go thông đường bộ, đã điều khiển phương tiện Go thông không đi đúng làn đường, lấn sang phần đường bên phải, không làm chủ tốc độ nên đã xô vào ông Nguyễn Văn C đang đi xe máy ngược chiều làm ông C tử vong. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm sự an L của các phương tiện tham G Go thông đường bộ mà còn xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của người khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo Hoàng Minh T xuất thân từ G đình lao động, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến Công an huyện Hải Hậu đầu thú. Bị cáo cùng đại diện chủ xe đã thoả thuận bồi thường thiệt hại cho G đình người bị hại số tiền 100.000.000đ. Đại diện G đình người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy Đ tại điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Bố đẻ bị cáo là Hoàng Văn Th được Nhà nước tặng thưởng “Huy chương kháng chiến hạng nhất”, mẹ đẻ bị cáo là Nguyễn Thị M được chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Đ tặng Bằng khen vì đã có thành tích tham G trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy Đ tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp cho người bị hại đã tự thoả thuận giải quyết với nhau xong, không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó, về trách nhiệm dân sự không đề cập giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy Đ của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Vi phạm quy Đ về điều khiển phương tiện Go thông đường bộ”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015;
+ Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời Gn thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án (bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/7/2017 đến ngày 20/7/2017).
Go bị cáo Hoàng Minh T cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Z, huyện Hải Hậu,
tỉnh Nam Đ giám sát giáo dục trong thời Gn thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy Đ tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án bị cáo Hoàng Minh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy Đ tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy Đ tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh: 1 bản; - VKSND tỉnh + huyện: 2 bản; - Công an huyện: 2 bản; - THAHS: 2 bản; - Chi cục Thi hành án dân sự: 1 bản; - UBND thị trấn Z: 1 bản; - Bị cáo: 1 bản; - Hồ sơ vụ án: 2 bản; - Lưu: VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Thung |