vanban.org

Bản án 489/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị N ly hôn anh Trần Văn T.

Về con chung: Giao con chung Trần Hải Lâm sinh ngày 18 tháng 7 năm 2008, Trần Tấn Nguyên sinh ngày 30 tháng 7 năm 2013 và Trần Như Ý sinh ngày 07 tháng 9 năm 2016 cho chị Trịnh Thị N trực tiếp nuôi dưỡng; anh Trần Văn T không cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyề…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Trịnh Thị N và bị đơn anh Trần Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị N ly hôn anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 489/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28-11-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Trường An;

2. Ông Văn Công Trọn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 565/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 454/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị N, sinh năm 1981; địa chỉ: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn chị Trịnh Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh T sống chung năm 2003, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân thị trấn S theo quy định pháp luật, hiện vợ chồng đã ly thân nhau. Chị cho rằng cuộc sống chung không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 04 người con chung Trần Hải L sinh ngày 21 tháng 7 năm 2013, Trần Hải Lâm sinh ngày 18 tháng 7 năm 2008, Trần Tấn Nguyên sinh ngày 30 tháng 7 năm 2013 và Trần Như Ý sinh ngày 07 tháng 9 năm 2016; cháu L đã trưởng thành có cuộc sống riêng ổn định nên không yêu cầu toà án giải quyết; các cháu L1, N1 và Ý hiện đang sống cùng với chị, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định tài sản chung chị tự thoả thuận với anh T, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Trần Văn T đúng theo quy định pháp luật nhưng anh T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Trịnh Thị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T có nơi cư trú tại thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh T1 đã được tòa án triệu tập xét xử hợp lệ những vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ theo Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh chị tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 2005 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện anh chị đã ly thân nhau. Chị N xác định không còn tình cảm vợ chồng và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn, anh T1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh T1 theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Anh chị có 04 người con chung Trần Hải L sinh năm 2013, Trần Hải Lâm sinh ngày 18 tháng 7 năm 2008, Trần Tấn Nguyên sinh ngày 30 tháng 7 năm 2013 và Trần Như Ý sinh ngày 07 tháng 9 năm 2016; cháu L đã trưởng thành có cuộc sống riêng ổn định không yêu cầu toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét; đối với các cháu L1, N1 và Ý hiện đang sống cùng với chị N. Xét thấy, việc giao con chung cho người trực tiếp nuôi dưỡng cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của các bên và cần duy trì sự ổn định trong cuộc sống vốn có của các cháu, hiện các cháu đang sống cùng với chị N nên cần duy trì sự ổn định cuộc sống vốn có đối với cháu là cần thiết; toà án có ghi nhận nguyện vọng của cháu N1 cháu Ý và các cháu có nguyện vọng sống cùng chị N; anh T1 không tham dự các phiên giải quyết cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của nguyên đơn. do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao các cháu L1, Ý, N1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện cụ thể các bên, đúng với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân.

[5] Về cấp dưỡng: Chị N xác định hiện chị không yêu cầu anh T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung, đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh T1 trong vụ án này.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định chị sẽ tự thoả thuận với anh T1 về tài sản chung không yêu cầu toà án giải quyết trong vụ án này, giữa anh chị không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có phát sinh về tài sản chung, nợ chung thì các bên có quyền khởi kiện thành một vụ án khác theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, anh T1 không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị N ly hôn anh Trần Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung Trần Hải Lâm sinh ngày 18 tháng 7 năm 2008, Trần Tấn Nguyên sinh ngày 30 tháng 7 năm 2013 và Trần Như Ý sinh ngày 07 tháng 9 năm 2016 cho chị Trịnh Thị N trực tiếp nuôi dưỡng; anh Trần Văn T không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Trịnh Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu số 0005605 ngày 01 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Chị Trịnh Thị N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Trần Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ