vanban.org

Bản án 489/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 25/10/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/10/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. VKSNDCC tại Hà Nội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Vũ Xuân T - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 489/2021/HS-PT
Ngày 25-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tất Nam;

Các Thẩm phán: bà Phan Thị Vân Hương;

ông Nguyễn Văn Cường.

- Thư ký phiên toà: bà Vũ Thị Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 187/2021/TLHS-PT ngày 04 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Đoàn Vũ Xuân T và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo đối với Bản án số 30/2021/HSST ngày 20-01-2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Các bị cáo kháng cáo, bị kháng cáo:

1. Đoàn Vũ Xuân T sinh ngày 16-9-2002 (khi phạm tội 17 tuổi 06 tháng 26 ngày); trú tại: thôn KT, xã TL, huyện TT, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn S và bà Vũ Thị L; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13-4-2020, có mặt.

2. Nguyễn Quốc A sinh ngày 27-9-2004 (khi phạm tội 15 tuổi 06 tháng 15 ngày); trú tại: thôn ĐX, xã TL, huyện TT, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Quốc T1 và bà Thái Thị H; tiền án, tiền sự: không; có mặt.

- Các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị:

Phạm Đình P, Nguyễn Văn M, Trần Mạnh H1, Nguyễn Hồng Đ, Ngô Văn T2 và Hoàng Văn C.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đoàn Vũ Xuân T: bà Vũ Thị L; trú tại: thôn KT, xã TL, huyện TT, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quốc A: bà Thái Thị H; trú tại: thôn ĐX, xã TL, huyện TT, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Vũ Xuân T: Luật sư Nguyễn Văn D - Văn phòng luật sư Việt Hàn, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc A: bà Đỗ Thị T3 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội; có mặt.

- Bị hại: anh Lê Mạnh T4 sinh ngày 04-3-2003. Người đại diện hợp pháp: chị Phạm Thị T5 trú tại đội 3, thôn VL, xã TP, huyện TT, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 11-4-2020, Phạm Đình P và Đào Đức T6 chửi nhau trên mạng xã hội Facebook. Biết tin P mâu thuẫn với T6 nên Phạm Văn N1 và Phạm Văn N2 đã lập nhóm “Chat” cùng với T6 để nhắn tin chửi nhau và hẹn đánh nhau với P.

Khoảng 20 giờ ngày 12-4-2020, Nguyễn Văn M ngồi ăn cơm tại nhà P thì P rủ M đi đánh nhau với nhóm của N1 và N2. M đồng ý. Tiếp theo, P gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Quốc A rủ đi đánh nhau thì Quốc A đồng ý và hẹn P đến “Quán trà chanh 1995” ở thị trấn TT, huyện TT, thành phố Hà Nội. Ngay sau đó, P đi xe máy hiệu Wave màu trắng, biển kiểm soát 29Y5-115.06 (xe máy của M) chở M đến “Quán trà chanh 1995” thì gặp Quốc A cùng với các đối tượng H2 và T7 (chưa xác định được nhân thân) nên P rủ cả ba đi đánh nhau thì tất cả đồng ý. T7 cầm theo một gậy đánh bóng chày và đưa cho P 01 tuýp sắt dài khoảng 01m đường kính khoảng 03cm. Sau đó, P đi xe máy chở M, còn T7 đi xe máy hiệu Wave (xe của T7, không nhớ biển kiểm soát) chở Quốc A và H2 đến khu vực Cầu Đen, xã Nhị Khê, huyện TT, thành phố Hà Nội. Tại đây, Quốc A lấy 01 tuýp sắt hàn dao bầu, dạng dao chọc tiết lợn dài khoảng 1,5 m ở dưới bờ ruộng (do Quốc A giấu trước đó). Cả nhóm của P cùng đi đến khu công nghiệp Quất Động, huyện TT tìm nhóm N1 và N2 để đánh nhưng không gặp. Lúc này, Quốc A gọi điện thoại cho bạn là Đoàn Vũ Xuân T rủ đi đánh nhau thì T đồng ý. Sau đó, Quốc A cùng P, M, H2 và T7 đi xe máy đến cây xăng thị trấn TT. Quốc A cùng P và M xuống xe đi nhặt được khoảng 01 két vỏ chai thuỷ tinh rồi Quốc A đi mua 20.000 đồng xăng đựng trong xô nhựa mang về cho P và M đổ xăng vào 04 chai thủy tinh, M xé áo bịt đầu chai làm bom xăng. Khi mọi người chuẩn bị công cụ đánh nhau thì H2 tự bỏ đi về trước.

Khi Quốc A rủ T đi đánh nhau thì lúc đó T đang ăn tối cùng Trần Mạnh H1 và Nguyễn Hồng Đ, nên T rủ H1 và Đ đi đánh nhau thì cả hai đồng ý. H1 đi xe máy hiệu Wave màu xanh, không có biển kiểm soát chở T, còn Đ đi xe máy hiệu Wave màu đen (không nhớ biển kiểm soát) một mình đến cây xăng TT thì T gọi điện thoại cho bạn là Ngô Văn T2 rủ đi đánh nhau thì T2 đồng ý. Lúc đó, Hoàng Văn C và Lê Văn V đang ở nhà T2 nên T2 rủ C, V đi đánh nhau thì C và V đồng ý. C đi xe máy chở T2, còn V đi xe máy một mình đến cây xăng xã TL, huyện TT thì gặp nhóm của P đã chuẩn bị tuýp sắt, dao phóng lợn, bom xăng. Tại đây, P vào nhóm “Chat” trên Facebook phát hiện nhóm anh N1 đang ở khu vực bến xe Hà Hồi, huyện TT. T2 bảo V đi xe máy một mình lên bến xe TT xem có ai không. Khi V đi thì P rủ những người còn lại đi tìm nhóm anh N1 và anh N2. V đi đến bến xe TT không thấy ai nên quay lại cây xăng TT nhưng không thấy nhóm P nên V tự đi về nhà. Khi đi tìm nhóm anh N1 thì H1 đi xe máy chở T ngồi sau cầm theo 02 vỏ chai thủy tinh không có xăng; Đ đi xe máy cầm 01 tuýp sắt hàn dao bầu do Quốc A đưa; P đi xe máy chở M ngồi sau cầm 01 tuýp sắt do P đưa; C đi xe máy chở T2; T7 đi xe máy cài gậy đánh bóng chày và 02 chai thủy tinh ở khung xe và chở Quốc A ngồi sau cầm 01 chai bom xăng. Trên đường đi, M lấy một nửa viên gạch cầm theo. Khi đến lối rẽ vào thôn Hoà Lương, xã Hà Hồi, huyện TT, thành phố Hà Nội thì nhóm của P phát hiện anh N1, anh N2 cùng nhóm bạn là anh Lê Mạnh T4 (sinh ngày 04-3-2003) và anh Trần Đình H3 (sinh ngày 08-4-2006) cùng anh Đỗ Văn T8 (sinh ngày 03-11-2006) đang dừng xe máy đứng ở ven đường. Khi nhìn thấy nhóm của anh N1, T hô “Chúng nó kia rồi”. Thấy vậy, nhóm của anh N1 lên xe máy bỏ chạy thì bị nhóm của P đi xe máy đuổi theo. Khi cách nhóm anh N1 khoảng 10m, T ném 02 vỏ chai thủy tinh; M ném nửa viên gạch về phía nhóm của anh N1. Do bị đuổi đánh nên anh H3 đi xe máy chạy thoát. Anh N1 cùng anh N2 và anh T8 bỏ lại xe máy và chạy xuống ruộng. Anh Lê Mạnh T4 chạy bộ trên đường thì bị T7 đi xe máy chở Quốc A đuổi kịp. T7 dùng chân đạp vào người anh T4 làm anh T4 ngã xuống đường. Ngay lúc đó cả nhóm của P đi xe máy đến nơi. M dùng chân phải đá 01 phát vào vùng đùi phải và 01 phát vào vùng sườn phải của anh T4; P dùng chân, tay đấm đá khoảng 04 phát vào mặt, vào người anh T4; T dùng tuýp sắt dài khoảng 1,5 m có đường kính khoảng 03 cm nhặt được ở dưới đường vụt 02 phát vào đỉnh đầu anh T4, sau đó bỏ tuýp sắt và dùng tay phải đấm trúng mặt anh T4; Đ cầm tuýp sắt hàn dao bầu đâm 02 nhát vào chân phải anh T4 nhưng không trúng; Quốc A giằng tuýp sắt hàn dao bầu của Đ vụt 05 phát phần cán tuýp trúng chân phải, tay phải của anh T4. H1 đứng ngoài thấy anh T4 nằm im thì bảo đồng bọn không đánh anh T4 nữa. Ngay lúc đó thấy anh T4 chửi nhóm P nên H1 nhổ một cây bên đường vụt nhiều lần vào lưng và hông của anh T4, làm anh T4 bị ngất xỉu. Bị cáo T2 và C đứng cách vị trí anh T4 bị đánh khoảng 02 m quan sát việc các bị cáo đánh T4 nhưng không can ngăn. Quá trình xô sát, bị cáo P làm rơi 01 chiếc dép nhựa bên phải.

Thấy anh T4 bị thương nằm bất tỉnh thì P cùng T, M, Quốc A, T7, Đ, H1, T2 và C đi xe máy tiếp tục đi tìm nhóm của anh N1 và anh N2 để đánh. Trước khi đi tìm nhóm của anh N1 thì T nhìn thấy chiếc xe máy hiệu Honda Wave, không đeo biển số để lại tại hiện trường, T nhầm tưởng là xe máy của Đ nên lấy xe sử dụng cùng cả nhóm đi tìm nhóm của anh N1 nhưng không thấy nên cả nhóm T đi về. Trên đường về, T nhận ra xe máy mình đi là của anh Đào Đức T6 nên ngay sau đó T đã mang trả chiếc xe máy trên cho anh T6.

Hậu quả: anh Lê Mạnh T4 bị các đối tượng dùng tuýp sắt, dao phóng lợn, gậy, chân tay đánh vào người bị thương được người dân phát hiện đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện TT sơ cứu, sau chuyển lên Bệnh viện Nông Nghiệp I cấp cứu, rồi chuyển tiếp Bệnh viện Việt Đức cấp cứu và điều trị từ ngày 12-4-2020 đến ngày 13-6-2020 thì được ra viện.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TT đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, truy tìm vật chứng, xác minh, thu thập chứng cứ, trưng cầu giám định pháp y thương tích của anh Lê Mạnh T4. Kết quả như sau:

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TT thực hiện hồi 09 giờ 15 phút ngày 13-4-2020, xác định: “... Nơi xảy ra vụ án tại trục đường dẫn từ Quốc lộ 1A đi Chùa La, giáp Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới, thuộc địa phận xã Hà Hồi, huyện TT, thành phố Hà Nội. Lòng đường rộng 4,8 m, trải bê tông, rệ đường bên phải hướng Quốc lộ 1A đi Chùa La rộng trung bình 2,3 m. Cách cửa lách tường rào phía bắc Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 1,4 m có nhiều vết giày, dép hằn lún trên nền đất, cây cỏ, diện (2,7 x 0,9) m (Vị trí số 01);

- Cách vị trí số 01 trên rệ đường 01 m về phía Đông Nam, cách mép đường bê tông 1,75 m, cách cửa lách tường rào Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 0,7 m phát hiện 02 chiếc dép màu đen in chữ “GUCCI”; 01 cành cây dài 04 m, đường kính gốc 5,3 cm, phần ngọn có một số đoạn xây xước, tróc vỏ (vị trí số 02);

- Mặt đường bê tông tại vị trí số 01 phát hiện nhiều mảnh thuỷ tinh trong suốt trên diện (35 x 03) m (Vị trí số 03);

- Rệ đường, cách vị trí số 02 về hướng Đông 1,35 m, cách mép đường bê tông 2,1 m phát hiện 01 chiếc dép màu đen ghi cỡ 44 (vị trí số 04);

- Rệ đường cách vị trí số 4 về hướng Đông 0,4 m, cách tường rào 0,4 m có dấu vết bánh xe hằn lún trên nền đất kích thước (29 x 0,08) m (vị trí số 05).

Tại bản kết luận giám định số 317/TTPY ngày 21/4/2020 của Trung tâm pháp y thành phố Hà Nội kết luận về thương tích của anh Lê Mạnh T4 như sau:

“... Vết thương, vết mổ ngang vùng trán trái sát chân tóc kích thước khoảng (20x0,3) cm, trên nền ổ khuyết xương sọ kích thước (05x06) cm.

- Sưng nề vùng mặt bên trái. - Vết sây sát sưng nề vùng chẩm trái trên nền sưng nề kích thước (04x02) cm. - Sưng nề, bầm tím vùng đùi phải.

- Gãy 1/3 dưới xương trụ phải ít di lệch; - CT. Scanner ngày 13-4-2020 của Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp I xác định có hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng trán trái, khí nội sọ, chảy máu dưới nhện, tụ máu dưới màng cứng cạnh phải phía sau liền đại não, vỡ xương trán trái, vỡ xương đỉnh trái; vỡ trần ổ mắt phải, vỡ thành xoang hàm phải, xoang bướm, xoang sàng bên phải, xoang trán hai bên, tụ dịch trong các khoang.

Kết luận:

1. Vết thương, vết mổ vùng trán trái:

03%;

2. Vết sây sát vùng chẩm trái và vùng giữa trán: 02%;

3. Khuyết xương sọ trán trái:

30%;

4. Tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, khí nội sọ, chảy máu dưới nhện liền đại não:

20%;

5. Vỡ xoang hàm trên bên phải, xoang trán hai bên: 09%;

6. Vỡ nền sọ (xoang sàng, xoang bướm):

16%;

7. Vỡ trần ổ mắt phải:

07%;

8. Tổn thương xoang tĩnh mạch dọc trên:

06%;

9. Gãy 1/3 dưới xương trụ phải:

06%.

10. Các chạm thương phần mềm vùng đầu mặt, chân phải: Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này.

11. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ các di chứng của tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có căn cứ.

12. Nhiều khả năng các thương tích và chạm thương do va đập với vật tày, tày có cạnh gây nên.

- Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 67% tính theo phương pháp cộng lùi”.

Sau khi anh Lê Mạnh T4 được điều trị ổn định, ngày 20-7-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TT đã quyết định trưng cầu giám định bổ sung mức độ tổn thương và di chứng để lại của anh Lê Mạnh T4.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích bổ sung số 693/TTPY ngày 23-7-2020 của Trung tâm pháp y thành phố Hà Nội kết luận về thương tích của anh Lê Mạnh T4 như sau:

“… Giữ nguyên các mục 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 12 phần VI tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 317/TTPY, ngày 21/4/2020 của Trung tâm Pháp y Hà Nội.

- Khuyết xương sọ trán trái đã phẫu thuật ghép xương (Thay thế cho mục 3, phần VI của bản kết luận giám định pháp y thương tích số: 317/TTPY, ngày 21/4/2020 của Trung tâm Pháp y Hà Nội): 20%.

- Bổ sung: Sẹo vết mổ cẳng tay phải: 02%.

- Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe cả hai lần giám định là: 63%”.

Đối với đối tượng T7 đi cùng nhóm Phạm Đình P tham gia đánh anh Lê Mạnh T4 đêm ngày 12-4-2020. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của T7. Do đó, Cơ quan điều tra đã quyết định tách vụ án hình sự, tách tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Trong quá trình điều tra vụ án, gia đình các bị cáo Đoàn Vũ Xuân T, Phạm Đình P, Nguyễn Văn M, Nguyễn Quốc A, Trần Mạnh H1, Nguyễn Hồng Đ, Ngô Văn T2 và Hoàng Văn C đã tự nguyện bồi thường cho anh Lê Mạnh T4 chi phí chữa bệnh, mất thu nhập, tổn thất tinh thẩn tổng số là 200.000.000 đồng. Anh T4 đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại Bản án số 30/2021/HSST ngày 20-01-2021, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; xử phạt các bị cáo Đoàn Vũ Xuân T 10 năm tù và Nguyễn Quốc A 10 năm tù, đều về tội “Giết người”.

(Phạm Đình P bị xử phạt 13 năm tù, các bị cáo Nguyễn Văn M, Trần Mạnh H1, Nguyễn Hồng Đ mỗi bị cáo bị xử phạt 10 năm tù. Ngô Văn T2, Hoàng Văn C mỗi bị cáo bị xử phạt 08 năm tù, đều về tội “Giết người”).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định việc xử lý vật chứng, về án phí theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 01-02-2021, bị cáo Đoàn Vũ Xuân T có đơn kháng cáo cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo 10 năm tù là quá nặng.

Ngày 27-01-2021, chị Thái Thị H (người đại diện hợp pháp của Nguyễn Quốc A) có đơn kháng cáo có nội dung đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Đoàn Vũ Xuân T, Nguyễn Quốc A khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm hình phạt, với lý do: sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; khi phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có ý kiến, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Đoàn Vũ Xuân T và Nguyễn Quốc A về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, không oan. Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường kịp thời thiệt hại; người bị hại có đơn đề nghị giảm hình phạt cho các bị cáo; khi phạm tội các bị cáo dưới 18 tuổi, trong đó bị cáo Quốc A chưa đủ 16 tuổi; đề nghị xem xét giảm hình phạt theo quy định đối với các bị cáo.

Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo đề nghị xem xét việc các bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Do mâu thuẫn cá nhân giữa Phạm Đình P với anh Đào Đức T6 nên Phạm Văn N1 và Phạm Văn N2 lập nhóm “Chat” nhắn tin chửi nhau và hẹn đánh nhau với P. Khoảng 20 giờ ngày 12-4-2020, Phạm Đình P rủ bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Nguyễn Quốc A đi đánh nhau; bị cáo Quốc A rủ đối tượng T7 (chưa xác định được nhân thân) và bị cáo Đoàn Vũ Xuân T; bị cáo T rủ bị cáo Trần Mạnh H1, bị cáo Nguyễn Hồng Đ và bị cáo Ngô Văn T2; T2 rủ thêm Hoàng Văn C cùng đi đánh nhau thì tất cả đều đồng ý. Khi đi, đối tượng T7 cầm theo 01 gậy đánh bóng chày; bị cáo P cầm theo 01 tuýp sắt dài khoảng 01m. Bị cáo Quốc A cầm 01 tuýp sắt hàn dao bầu dài khoảng 1,5 m và cùng bị cáo P, bị cáo M chuẩn bị 01 két vỏ chai thuỷ tinh, bị cáo Quốc A mua 20.000 đồng xăng cho các bị cáo P, M chế 04 bom xăng bằng chai thủy tinh. Khi đi tìm nhóm anh N1, bị cáo H1 đi xe máy chở bị cáo T ngồi sau cầm theo 02 vỏ chai thủy tinh; bị cáo Đ đi xe máy một mình cầm 01 tuýp sắt hàn dao bầu do bị cáo Quốc A đưa; bị cáo P đi xe máy chở bị cáo M ngồi sau cầm theo 01 tuýp sắt do bị cáo P đưa và nhặt cầm thêm 1/2 viên gạch; bị cáo C đi xe máy chở bị cáo T2; đối tượng T7 đi xe máy cầm theo gậy bóng chày, 02 chai thủy tinh và chở bị cáo Quốc A ngồi sau cầm 01 chai bom xăng. Khi đến lối rẽ vào thôn Hoà Lương, xã Hà Hồi, huyện TT thì nhóm của bị cáo P phát hiện anh Phạm Văn N1, Phạm Văn N2, Trần Đình H3, Đỗ Văn T8 và Lê Mạnh T4 nên hô hoán làm anh N2, anh N1, anh H3, anh T8 và anh T4 lên xe máy bỏ chạy. Anh T4 điều khiển xe máy bị xe của đối tượng T7 đuổi kịp. Đối tượng T7 dùng chân đạp vào xe máy làm anh T4 ngã xuống đường. Cùng lúc này, các bị cáo M, P dùng chân, tay đấm, đá anh T4; bị cáo T dùng tuýp sắt vụt 02 phát trúng đỉnh đầu anh T4; bị cáo Đ cầm tuýp sắt hàn dao chọc tiết lợn đâm 02 nhát vào chân anh T4 nhưng không trúng; bị cáo Quốc A dùng tuýp sắt hàn dao bầu vụt 05 phát phần cán tuýp trúng tay, chân anh T4; bị cáo H1 lấy cây bên đường vụt nhiều lần vào lưng và hông của anh T4; các bị cáo T2, C đứng cách vị trí anh T4 bị đánh khoảng 02m quan sát việc các bị cáo đánh T4 nhưng không can ngăn. Hậu quả, anh Lê Mạnh T4 bị các vết thương vùng trán trái, sây sát vùng chẩm trái và vùng giữa trán, vỡ xương sọ trán trái, tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, khí nội sọ, chảy máu dưới nhện liền đại não, vỡ xoang hàm trên bên phải, xoang trán hai bên, vỡ nền sọ (xoang sàng, xoang bướm); vỡ trần ổ mắt phải, tổn thương xoang tĩnh mạch dọc trên, gãy 1/3 dưới xương trụ phải. Do được cấp cứu và điều trị kịp thời nên anh Lê Mạnh T4 không bị tử vong nhưng bị tổn hại 63% sức khoẻ. Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Đoàn Vũ Xuân T, Nguyễn Quốc A và các bị cáo khác về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, không oan.

Trong vụ án này, bị cáo Phạm Đình P có vai trò chủ mưu, cầm đầu, chỉ đạo các bị cáo khác chuẩn bị hung khí tấn công bị hại, Đoàn Vũ Xuân T trực tiếp cầm hung khí là tuýp sắt vụt hai nhát vào anh T4, bị cáo Quốc A dùng tuýp sắt vụt vào chân anh T4 nhưng không trúng, bị cáo H1 dùng cây vụt nhiều lần vào mông anh T4, bị cáo M đấm đá anh T4, các bị cáo T2, C đứng xem, không can ngăn, hỗ trợ cho các bị cáo khác phạm tội.

Sau khi phạm tội, các bị cáo T, Quốc A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động ra đầu thú, tác động gia đình bồi thường khắc phục bồi thường cho bị hại; người bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, khi phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi, trong đó bị cáo Quốc A là ít tuổi nhất so với các bị cáo khác (15 tuổi 06 tháng 26 ngày). Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại lại có đơn đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo T; tại phiên tòa, gia đình bị cáo nộp tài liệu có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện việc bị cáo T có ông nội tham gia kháng chiến, được tặng thưởng Huân chương; bị cáo Quốc A có bà nội trước đây tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương.

Xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án trước và sau khi xét xử sơ thẩm, vai trò, mức độ phạm tội và nhân thân các bị cáo, xét thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo T và Quốc A là có phần nghiêm khắc, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho các bị cáo.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

. Bị cáo Đoàn Vũ Xuân T không phải nộp án phí phúc thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quốc A là bà Thái Thị H không phải nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Sửa Bản án số 30/2021/HSST ngày 20-01-2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội như sau:

1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đoàn Vũ Xuân T 09 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-4-2020 và xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; đều về tội “Giết người” (chưa đạt).

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ