- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 489/2019/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 6 - 2019 V/v “ Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Thu Hiền
2. Bà Cao Thị Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa là Thư ký Tòa án nhân dân Tp.Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số : 01/2019/TLST-HN ngày 02 tháng 01 năm 2019 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2019/QĐST-HNGĐ ngày 21/5/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn : Chị Bùi Thị Trung Th, sinh năm : 1976; cư trú tại 81/7 NM, thành phố Q, tỉnh B (có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm : 1972; cư trú tại 81/7 NM, thành phố Q, tỉnh B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/12/2018 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn, chị Bùi Thị Trung Th trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn M trước khi kết hôn có tìm hiểu khoảng 01 năm, do bạn bè mai mối, anh chị có đăng ký kết hôn tại phường QT vào ngày 22/01/1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh M sống không có trách nhiệm với gia đình, chị cố gắng nhẫn nhịn bỏ qua, vợ chồng tiếp tục chung sống. Sau khi vợ chồng có con anh M vẫn không thay đổi cách sống, vẫn sống vô trách nhiệm, mọi việc trong gia đình đều do chị cán đán, lo liệu. Chị đã nhiều lần khuyên bảo, gia đình cha mẹ hai bên cũng đã nhiều lần góp ý nhưng anh M không thay đổi, anh M không có việc làm ổn định, thường xuyên đi chơi lêu lỏng.
Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đã nhiều lần tha thứ, bỏ qua nhưng anh M vẫn không thay đổi, vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh M để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung, tên Nguyễn Quang B, sinh ngày 24/7/2002 và Nguyễn Quang Ph, sinh ngày 23/8/2004. Hiện nay sức khỏe con bình thường. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh M tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa giải quyết.
*Bị đơn anh Nguyễn Văn M:
Anh Nguyễn Văn M cố tình vắng mặt, không đến Tòa để làm việc, nên Tòa không lấy được lời khai.
+ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Q phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định c a Bộ luật tố tụng Dân sự kể t khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân th đúng theo qui định c a pháp luật tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật c a những người tham gia tố tụng dân sự : Nguyên đơn chị Bùi Thị Trung Th đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định c a Bộ luật tố tụng Dân sự được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật TTDS. Bị đơn anh Nguyễn Văn M không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định c a Bộ luật tố tụng Dân sự được quy định tại các Điều 70 và 72 Bộ luật TTDS
+ Về quan điểm gi i quyết vụ án đề nghị: Áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình.
- Về hôn nhân : Chấp nhận yêu cầu c a chị Bùi Thị Trung Th xin ly hôn anh Nguyễn Văn M.
- Về con chung: Chị Th, anh M có hai con chung là Nguyễn Quang B, sinh ngày 24/7/2002 và Nguyễn Quang Ph, sinh ngày 23/8/2004. Giao hai con cho chị Th nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh M đến khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung : Chị Th không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Án phí HNGĐ : Chị Bùi Thị Trung Th phải chịu 300.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về th tục tố tụng: Chị Bùi Thị Trung Th có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, Tòa án nhân dân thành phố Q đã thụ lý đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 c a Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, anh M đã được nhận thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh không đến Tòa làm việc.
Tại phiên Tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Nguyễn Văn M vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo th tục chung.
Về nội dung : Chị Bùi Thị Trung Th và anh Nguyễn Văn M kết hôn vào năm 1999 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại phường QT, thành phố Q, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị Th nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh M sống không có trách nhiệm với gia đình, không chịu đi làm, tụ tập ăn chơi, mọi việc trong gia đình đều do chị lo liệu. Chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh M không thay đổi. Đến đầu năm 2018 vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và sống ly thân t đó cho đến nay.
Mâu thuẫn c a vợ chồng chị, cha mẹ hai bên đều biết và đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh chị nhưng không được. Nay chị cương quyết xin ly hôn anh M để ổn định cuộc sống.
Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn M không hợp tác, không đến Tòa làm việc điều này chứng tỏ anh không có thiện chí muốn hòa hợp.
Xét mâu thuẫn c a anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu c a chị Bùi Thị Trung Th xin được ly hôn anh Nguyễn Văn M là phù hợp với Điều 51, 56 c a luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung : Trong quá trình chung sống anh chị có 02 (hai) con chung là Nguyễn Quang B, sinh ngày 24/7/2002 và Nguyễn Quang Ph, sinh ngày 23/8/2004, hiện nay sức khỏe hai cháu bình thường, chị Th yêu cầu được nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Tòa xét : Việc nuôi con sau khi ly hôn phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặc và phù hợp nguyện vọng c a các cháu. Tại bản khai ngày 21/3/2019 cháu Nguyễn Quang B và Nguyễn Quang Ph đều có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, HĐXX xét thấy nên giao các cháu Nguyễn Quang B và Nguyễn Quang Ph cho chị Th nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh M đến khi có đơn yêu cầu.
Về tài sản chung : Chị Th không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về án phí : Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 c a Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban thường vụ Quốc hội chị Bùi Thị Trung Th phải chịu án phí sơ thẩm Hôn nhân gia đình.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q phát biểu phù hợp nhận định c a HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 c a Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban thường vụ Quốc hội.
Tuyeân xöû :
1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu c a chị Bùi Thị Trung Th xin được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
2- Về con chung, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:
2.1. Chị Bùi Thị Trung Th và anh Nguyễn Văn M có hai con chung là Nguyễn Quang B, sinh ngày 24/7/2002 và Nguyễn Quang Ph, sinh ngày 23/8/2004.
2.2. Giao hai cháu Nguyễn Quang B và Nguyễn Quang Ph cho chị Bùi Thị Trung Th được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh M đến khi có đơn yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con c a người đó.
Vì lợi ích c a con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
3 - Tài sản chung : Chị Bùi Thị Trung Th không yêu cầu, Tòa không giải quyết.
4 - Án phí HNGĐST : Chị Bùi Thị Trung Th phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được tr vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số số 0000833 ngày 28/12/2018 c a Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Q.
Báo cho các bên đương sự biết thời hạn kháng cáo đối với bản án c a Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể t ngày tuyên án; đối với các đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính t ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - VKSND Tp.Quy Nhơn; - Các đương sự; - Lưu : VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Ngọc Lan |