vanban.org

Bản án 486/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Hữu T được ly hôn với bà Lê Thị T1

2/ Về con chung: 03 trẻ tên: Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 22/7/1993 (đã trưởng thành) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn T - T1"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Hữu T được ly hôn với bà Lê Thị T1
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 486/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 05/5/2022
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 1268/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/ QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1964 (có đơn xin xét xử vắng

mặt)

Địa chỉ: Nhà không số, tổ 9, ấp A, xã B, huyện C, Thành phố D.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú cuối cùng: Nhà không số, tổ 12, ấp A, xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, Bản tự khai ngày 23/12/2020; Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 15/3/2021 và ngày 06/5/2021; Biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 15/3/2021 và ngày 06/5/2021, nguyên đơn Nguyễn Hữu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1992 ông và bà T1 tự nguyện tìm hiểu và tổ chức lễ cưới, hai bên có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện F, tỉnh G ngày 10/10/1996.

Sau ngày cưới, vợ chồng ông sống tại nhà riêng ở 246/1/5 đường H, phường I, quận J, Thành phố D. Sau đó, đến năm 2014 vợ chồng ông chuyển về ấp A, xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống.

Trong thời gian sống chung, vợ chồng ông đôi khi xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai đã tự hàn gắn để cùng nhau xây dựng gia đình. Tuy nhiên, đến năm 2015 bà T1 đã tự ý bỏ nhà đi đâu không rõ lý do, một mình ông phải làm việc vất vả để chăm lo 03 đứa con nhỏ và trả nợ. Ông đã nhiều lần tìm kiếm, liên hệ nhiều nơi nhưng không biết tin tức của bà T1. Do vậy, ông đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tuyên bố bà Lê Thị T1 mất tích và đã được chấp nhận yêu cầu theo Quyết định số 83/2020/QĐST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2020.

Nay nhận thấy giữa ông và bà T1 không thể cùng nhau xây dựng gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị được ly hôn với bà Lê Thị T1.

Về con chung: Ông và bà T1 có 03 con chung gồm:

- Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 22/7/1993 (đã trưởng thành)

- Nguyễn Lê Duy M, sinh ngày 09/8/2002 (đã trưởng thành)

- Nguyễn Lê Duy B, sinh ngày 03/11/2005.

Trẻ N và M đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với trẻ B thì hiện trẻ B đang ở với ông nên ông yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ B, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Ông và bà T1 không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông và bà T1 không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn bà Lê Thị T1 đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tuyên bố mất tích theo Quyết định số 83/2020/QĐST-Ds ngày 15 tháng 4 năm 2020. Sau khi thụ lý đơn xin ly hôn của Nguyễn Hữu T, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập cho bà T1 nhưng cũng không có tin tức gì và bà T1 cũng không đến tham gia vụ kiện. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Nguyễn Hữu T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Về phía bị đơn bà Lê Thị T1, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn bà Lê Thị T1 vắng mặt.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến như sau:

*Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:

Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 về thẩm quyền thụ lý vụ án. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã ban hành thông báo thụ lý vụ án giao cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và bị đơn theo đúng quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự về việc tiến hành lập hồ sơ hòa giải, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, tống đạt các văn bản tố tụng và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự

*Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyễn Hữu T yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị T1. Đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn”, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là bà Lê Thị T1 có nơi cư trú cuối cùng tại tổ 12, ấp A, xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự tham gia của các đương sự:

Đối với nguyên đơn Nguyễn Hữu T: Sau khi cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, ông có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử nhận thấy việc vắng mặt của ông T không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án và phù hợp với Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với bị đơn bà Lê Thị T1: Ngày 15/4/2020 Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã ban hành Quyết định giải quyết việc dân sự số 83/2020/QĐST-DS về việc tuyên bố bà Lê Thị T1, sinh năm 1972; nơi cư trú cuối cùng: tổ 12, ấp A, xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh là đã mất tích. Ngày mất tích của bà Lê Thị T1 là 04/01/2017.

Ngày 08/11/2020 Nguyễn Hữu T có đơn xin ly hôn với bà Lê Thị T1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn cũng đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử để thông báo thời gian mở phiên tòa vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 12/4/2022 nhưng bà T1 vắng mặt; Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 05/5/2022 nhưng hôm nay bà T1 vẫn vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bà T1 là phù hợp với quy định Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân giữa Nguyễn Hữu T và bà Lê Thị T1

Vào năm 1992 ông T và bà T1 tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, hai bên có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện F, tỉnh G ngày 10/10/1996. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của nguyên đơn ông T thì thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng ông chung sống hạnh phúc. Đến năm 2015 thì bà T1 bỏ nhà đi đâu không rõ lý do, ông đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không biết được tin tức của bà T1. Năm 2020 ông đã nộp đơn yêu cầu tuyên bố bà Lê Thị T1 mất tích và đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn cấp nhận yêu cầu theo Quyết định số 83/2020/QĐST-DS ngày 15/4/2020. Kể từ ngày tuyên bố bà T1 mất tích đến nay thì ông cũng không có bất kỳ thông tin gì của bà T1. Nhận thấy không thể cùng nhau xây dựng gia đình với bà T1 nên ông yêu cầu ly hôn với bà T1.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn bà Lê Thị T1 đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tuyên bố mất tích theo Quyết định số 83/2020/QĐST-DS ngày 15/4/2020, đến nay cũng không có tin tức gì. Do vậy, có cơ sở xác định giữa ông T và bà T1 không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay. Bà T1 bỏ nhà đi đâu không rõ, không quan tâm lo lắng cho gia đình, không cùng ông T nuôi dạy con nhỏ, mục đích hôn nhân giữa ông T và bà T1 không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự thì việc ông T yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị T1 là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Ông T và bà T1 có 03 con chung tên:

- Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 22/7/1993 (đã trưởng thành)

- Nguyễn Lê Duy M, sinh ngày 09/8/2002 (đã trưởng thành)

- Nguyễn Lê Duy B, sinh ngày 03/11/2005.

Trẻ N và M đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với trẻ B thì hiện trẻ B đang ở với ông nên ông yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ B, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng tiền nuôi con.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Toá án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì xem xét nguyện vọng của con”;

Căn cứ vào bản tự khai ngày 13/12/2020 của trẻ Nguyễn Lê Duy B;

Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi bà T1 bỏ nhà đi đến nay thì trẻ B do ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và nguyện vọng của trẻ B là mong muốn ở với ông T. Do vậy, để đảm bảo ổn định về mặt tâm lý cũng như sự phát triển toàn diện của trẻ về mọi mặt nên xét yêu cầu của ông T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ B là có cơ sở chấp nhận.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông T không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Ông T khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ông T khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 203; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015

Áp dụng Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Hữu T được ly hôn với bà Lê Thị T1

2/ Về con chung: 03 trẻ tên:

- Nguyễn Lê Bảo N, sinh ngày 22/7/1993 (đã trưởng thành)

- Nguyễn Lê Duy M, sinh ngày 09/8/2002 (đã trưởng thành)

- Nguyễn Lê Duy B, sinh ngày 03/11/2005.

Đối với Nguyễn Lê Bảo N và Nguyễn Lê Duy M đã trưởng thành, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau ly hôn, giao trẻ Nguyễn Lê Duy B cho Nguyễn Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà Lê Thị T1 cho đến khi Nguyễn Hữu T có đơn yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về tài sản chung: Ông T khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4/ Về nợ chung: Ông T khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5/ Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, ông Nguyễn Hữu T chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0076790 ngày 18/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Ông T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặn bản án được niêm yết.

Cỡ chữ