vanban.org

Bản án 485/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Th Huỳnh Huơng.

Chấp nhận kháng cáo của các cáo Phạm Th V, Nguyễn Ngọc H và Lê Th S. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2022/HS-ST ngày 29-8-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về Phần hình phạt chính đối với các cáo Phạm Th V, Nguyễn Ngọc H và Lê Th S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H, cùng đồng phạm - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Th Huỳnh Huơng.
  • Căn cứ chính? Điều 348 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 485/2022/HS-PT
Ngày: 24-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường

Các Thẩm phán:

Ông Mai Xuân Thành

Ông Trần Quốc Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quang Toàn - Thƣ ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24-11-2022, tại trụ sở. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2022/TLPT-HS ngày 10-10-2022 đối với cáo Nguyễn Ngọc H, cùng đồng phạm. Do có kháng cáo của các cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2022/HSST ngày 29-8-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Các bị cáo kháng cáo:

1. Phạm Thị V, sinh ngày 20-6-1988 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký HKTT: tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: thành phố Đà Nẵng; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Phạm Đình T, sinh năm 1964 và à Lê Th H, sinh năm 1968; tiền án, tiền sự: Không.

B cáo

ắt ngày 23-02-2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 12-12-1985 tại Bình Đ nh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thành phố Đà Nẵng; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Nguyễn Ngọc Lan, sinh năm 1960 và à Trƣơng Th Kim Cúc, sinh năm 1964; vợ là Lâm Phƣơng Uyên, sinh năm 1985 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

B cáo tạm giam từ ngày 23-02-2022; đến ngày 06-4-2022, đƣợc thay đổi ằng iện pháp cho Bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Thị S, sinh ngày 13-10-1983 tại Đà Nẵng; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thành phố Đà Nẵng; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã đình chỉ sinh hoạt Đảng, theo Quyết đ nh số 15-QĐ/UBKTQU ngày 19-4-2022); con ông: Không rõ cha, con à Lê Th H, sinh năm 1956; chồng là Đặng Văn T, sinh năm 1981 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

B cáo

ắt ngày 23-02-2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Thị Huỳnh H, sinh ngày 30-7-1982 tại Đà Nẵng; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: tỉnh Quảng Nam; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nữ; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Kế toán; con ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1958 và à Lê Th Xuân L, sinh năm 1956; chồng là Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 và có 02 con, tiền án, tiền sự: Không.

B cáo áp dụng iện pháp Cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo:

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị V: Luật sƣ Nguyễn Doãn H - Công ty Luật TNHH MTV Q, thuộc Đoàn Luật sƣ thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc H: Luật sƣ Nguyễn Ngọc C - Văn phòng Luật sƣ T, thuộc Đoàn Luật sƣ thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị S: Luật sƣ Nguyễn Lê V - Công ty Luật TNHH MTV N, thuộc Đoàn Luật sƣ thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.

(Vụ án có 12 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng không liên quan đến kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20-5-2021, Công an thành phố Đà Nẵng kiểm tra tại Công ty TNHH Kỹ thuật công nghiệp điện H (sau đây viết tắt là Công ty H) tại số quận C phát hiện 03 ngƣời nƣớc ngoài gồm Huang Ding M (sinh ngày 09-02-1991, hộ chiếu số E87007141, th thực Việt Nam số DA1810985, giá tr từ ngày 28-3-2021 đến ngày 27-6-2021), Jiang Zhi G (sinh ngày 05-6-1985, hộ chiếu số EC7679018, th thực Việt Nam số ZA1810958, giá tr từ ngày 28-3-2021 đến ngày 27-6-2021), Wu Xiao D (sinh ngày 09-01-1987, số hộ chiếu EF1397451, th thực Việt Nam số DA1810964, giá tr từ ngày 28-3-2021 đến ngày 27-6-2021) do Công ty H bảo lãnh nhập cảnh có dấu hiệu hoạt động không đúng mục đích nhập cảnh.

Kết quả điều tra xác định:

Tháng 02-2021, Wang Li H (sinh ngày 08-6-1985, hộ chiếu số EG3197354), Wang N (sinh ngày 26-02-1984, hộ chiếu số EF8964160), Chen Shu H (sinh ngày 01-02-1989, hộ chiếu số E94363261), Ding Jin H (sinh ngày 19-3-1983, hộ chiếu số EG2566138) cùng với Huang Ding M, Jiang Zhi G và Wu Xiao D muốn nhập cảnh Việt Nam nhƣng do ảnh hƣởng của d ch Covid-19, không nhập cảnh đƣợc. Vì vậy, những ngƣời này liên hệ với Phạm Th V để hỏi về thủ tục nhập cảnh. V liên hệ với Nguyễn Ngọc H hỏi số ngƣời Trung Quốc này có thể nhập cảnh Việt Nam đƣợc không. H liên hệ với Nguyễn Cẩm T hỏi về thủ tục nhập cảnh, T liên hệ với T1 (không rõ lai l ch) hỏi và áo lại cho H, cụ thể: Nếu những ngƣời Trung Quốc này có công ty ở Việt Nam bảo lãnh thì chi phí làm hồ sơ, thủ tục nhập cảnh là 3.000 USD/ngƣời; nếu chƣa có công ty ảo lãnh thì chi phí làm hồ sơ, thủ tục nhập cảnh là 3.500 USD/ngƣời. H áo lại cho V, V trao đổi lại với số ngƣời Trung Quốc (nêu trên) là do họ không phải là chuyên gia và cũng không có công ty ở Việt Nam bảo lãnh, nên chi phí nhập cảnh là 3.500 USD/ngƣời. Những ngƣời Trung Quốc đồng ý và chuyển cho V 576.000.000 đồng, số tiền này V chuyển lại hết cho H, cùng với hình chụp hộ chiếu của 07 ngƣời Trung Quốc qua Zalo để H làm thủ tục nhập cảnh. Tháng 3-2021, H liên hệ với Lê Th S đặt vấn đề nhờ S tìm công ty có đăng ký kinh doanh tại Việt Nam để bảo lãnh cho những ngƣời Trung Quốc. Do muốn tạo mối quan hệ với H để thuận lợi trong việc kinh doanh của công ty, S đồng ý:

Lần thứ nhất:

Lê Th S liên hệ với Nguyễn Th Huỳnh H (là nhân viên Công ty H) nhờ H sử dụng Công ty H bảo lãnh nhập cảnh cho 03 ngƣời Trung Quốc, H đồng ý và gửi cho S Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty H, S chuyển tiếp cho H. Sau đó, H gửi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty H, cùng với hình chụp hộ chiếu của 03 ngƣời Trung Quốc cho T, T chuyển cho T1. Sau khi hoàn thành các mẫu có trong hồ sơ bảo lãnh nhập cảnh của Công ty H, T1 chuyển cho T qua Zalo, T gửi cho H, H chuyển tiếp các giấy tờ này cho S và yêu cầu sau khi ký, đóng dấu thì gửi lại cho H, kèm theo 02 bản sao công chứng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty.

Do Giám đốc Công ty H là ông Đỗ Huy C mang theo con dấu công ty đi công tác tại Bình Đ nh, nên S và H trao đổi làm giả một con dấu khác của Công ty H, S liên hệ với ngƣời quen là Đặng Văn K - Giám đốc Công ty TNHH MTV Mỹ thuật khắc dấu quảng cáo T, nhờ K làm cho S 01 con dấu của Công ty H, S nói dối là con dấu cũ đã mất, nên K đồng ý làm. Sau khi làm xong con dấu giả, ngày 16-3-2021, S giả chữ ký của ông C và dùng con dấu giả để đóng lên hồ sơ xin cấp th thực nhập cảnh của 03 ngƣời Trung Quốc.

Lần thứ hai:

Do vốn điều lệ của Công ty H ít, không đủ điều kiện để bảo lãnh nhập cảnh cho nhiều ngƣời, nên H đề ngh S tìm thêm một công ty khác. Lúc này S nghĩ đến công ty nơi em ruột là Lê Th T2 đang làm là Công ty Cổ phần Đầu tƣ Xây dựng và Thƣơng mại T. S liên hệ và nói dối T2 là S đã trao đổi và đƣợc ông Trần Tuấn T - Giám đốc Công ty T đồng ý ký hồ sơ. S nói T2 gửi trƣớc cho S Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty này và S chuyển tiếp cho H. H gửi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty T, cùng với hình chụp hộ chiếu của 04 ngƣời Trung Quốc cho T, T chuyển cho T1. Sau khi làm hồ sơ xong, T1 chuyển lại cho T qua zalo, T chuyển cho H. H chuyển cho S để đem đi ký tên, đóng dấu công ty bảo lãnh. S liên hệ với ông T, thì ông T nói S đem hồ sơ lên xem. Sau đó, S nhờ T2 đem hồ sơ đến gặp ông T, nhƣng ông T không có ở công ty, T2 điện thoại lại áo cho S, thì S nói dối là S đã bảo ông T rồi, nên yêu cầu T2 sử dụng con dấu chữ ký của ông T và con dấu Công ty T đóng lên hồ sơ xin cấp th thực nhập cảnh của 04 ngƣời Trung Quốc.

Sau khi hoàn thành các thủ tục, S chuyển lại 02 hồ sơ bảo lãnh của 02 công ty cho H, H gửi hồ sơ xin cấp th thực này và chuyển tiền chi phí làm thủ tục cho T. Tổng cộng, H chuyển khoản cho T 04 lần, với tổng số tiền là 396.800.000 đồng qua số tài khoản 0491000096040 - Ngân hàng V. Sau đó, T chuyển toàn ộ hồ sơ và tiền cho T1 để làm thủ tục cấp th thực nhập cảnh. T hoàn toàn không iết những ngƣời Trung Quốc này là ai, chỉ giúp H liên hệ với T1 để làm hồ sơ, T không hƣởng lợi.

Trên cơ sở các hồ sơ bảo lãnh trái phép nêu trên, ngày 13-3-2021 và ngày 20-3-2021, Wang N và Wang Li H, Chen Shu H đã nhập cảnh Việt Nam tại Sân ay quốc tế Nội Bài; ngày 28-3-2021, Huang Ding M, Jiang Zhi G, Wu Xiao D đã nhập cảnh Việt Nam tại sân ay quốc tế Đà Nẵng. Đối với Ding Jin H không nhập cảnh Việt Nam.

Trong tổng số tiền 576.000.000 đồng mà Phạm Th V chuyển cho Nguyễn Ngọc H, sau khi trừ đi các khoản chi phí hết 403.000.000 đồng (vé may ay, chi phí cách ly, ăn uống, chuyển phát nhanh và đi lại), H chuyển cho Lê Th S và Nguyễn Th Huỳnh H 800 USD, còn 155.000.000 đồng H thu lợi. Ngoài ra, Phạm Th V còn giúp 02 ngƣời Trung Quốc thuê nhà và nhận 8.000.000 đồng tiền hoa hồng từ chủ nhà.

Tại bản Kết luận giám định số 316/KL-09C(Đ2) ngày 05-4-2022, Phân viện K học hình sự - Bộ Công an tại Đà Nẵng kết luận:

- Hình dấu có nội dung “CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG VÀ THƢƠNG MẠI T * S.Đ.K.K.D: 0401210942 - CTCP * Q C-TP. ĐÀ NẴNG” trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1 so với hình dấu có cùng nội dung của Công ty TNHH Cổ phần Đầu tƣ xây dựng và Thƣơng mại T trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một con dấu đóng ra.

- Chữ ký mang tên Trần Tuấn T trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1 so với chữ ký đứng tên Trần Tuấn T trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3 là do cùng một con dấu đóng ra.

- Hình dấu có nội dung: “CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT ĐIỆN CÔNG NGHIỆP H * MSDN: 0400512683 - CTINHH *THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG” trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A2 so với hình dấu có cùng nội dung của Công ty TNHH Kỹ thuật điện công nghiệp H trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M4 là không phải do cùng một con dấu đóng ra.

- Chữ ký mang tên Đỗ Huy C trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A2 so với chữ ký đứng tên ông Đỗ Huy C trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M4, M5, M6 là không phải do cùng một ngƣời ký ra.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2022/HSST ngày 29-8-2022, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng:

1. Áp dụng các điểm , c khoản 2, khoản 4 Điều 348; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Phạm Thị V 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-02-2022.

- Phạt ổ sung 10.000.000 đồng.

2. Áp dụng các điểm b, c, đ khoản 2, khoản 4 Điều 348; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Ngọc H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo thi hành án (đƣợc trừ thời gian tạm giam từ ngày 23-02-2022 đến ngày 06-4-2022).

- Phạt bổ sung: 20.000.000 đồng.

3. Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 341; các điểm , c khoản 2, khoản 4 Điều 348; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Lê Thị S 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, uộc Lê Thị S phải chấp hành chung là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-02-2022.

- Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép”.

4. Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 341; khoản 1 Điều 348; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 (đối với tội “Làm giả con dấu tài liệu, của cơ quan, tổ chức”) và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Thị Huỳnh H 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép” và 01 (một) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, uộc Nguyễn Thị Huỳnh H phải chấp hành chung là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo thi hành án.

Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết đ nh xử lý vật chứng, án phí và thông áo quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

- Ngày 04-9-2022, Phạm Th V và Lê Th S kháng cáo xin giảm hình phạt.

- Ngày 06-9-2022, Nguyễn Th Huỳnh H kháng cáo xin giảm hình phạt.

- Ngày 13-9-2022, Nguyễn Ngọc H kháng cáo xin giảm hình phạt.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, các cáo Phạm Th V, Nguyễn Ngọc H, Lê Th S và Nguyễn Th Huỳnh H kháng cáo xin giảm hình phạt. Đơn kháng cáo của các cáo là trong hạn quy đ nh tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Hội đồng quyết đ nh đƣa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các cáo giữ nguyên kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của các cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm, giảm hình phạt cho Nguyễn Ngọc H, Phạm Th V, Lê Th S và Nguyễn Th Huỳnh H.

Luật sƣ ào chữa và các cáo tranh tụng công khai. Nói lời sau cùng, các b cáo đều đề ngh xem xét nguyên nhân, tính chất, mức độ, ý thức phạm tội, nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm hình phạt cho các cáo.

. Xét kháng cáo của các cáo:

. Về tội danh:

- Hành vi tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép:

Mặc dù, biết rõ những ngƣời Trung Quốc không phải là chuyên gia, không đƣợc công ty nào tại Việt Nam bảo lãnh theo diện chuyên gia, muốn nhập cảnh Việt Nam và do ảnh hƣởng của d ch bệnh Covid 19 không thể nhập cảnh đƣợc, nhƣng Phạm Th V vẫn nhận lời và móc nối với Nguyễn Ngọc H (Giám đốc Công ty TNHH Thƣơng mại và d ch vụ Uyên H 79) để chạy các thủ tục xin cấp th thực nhập cảnh cho những ngƣời Trung Quốc theo diện chuyên gia. Theo đó, V và H thống nhất nếu khách có công ty ở Việt Nam bảo lãnh, thì chi phí nhập cảnh là 3.000 USD/ngƣời, nếu khách chƣa có công ty ở Việt Nam bảo lãnh, thì chi phí nhập cảnh là 3.500 USD/ngƣời. Trên cơ sở đó, V nhận tổng số tiền là 24.500 USD/7 ngƣời, tƣơng đƣơng 576.000.000 đồng của những ngƣời Trung Quốc và nhiều lần chuyển số tiền này, cùng với hình chụp hộ chiếu của 07 ngƣời Trung Quốc cho H, để H làm các thủ tục xin cấp th thực nhập cảnh Việt Nam.

Sau khi thống nhất với Phạm Th V, Nguyễn Ngọc H liên hệ với Lê Th S (Giám đốc Công ty TNHH lữ hành Quốc tế Chìa khóa du l ch Việt) để nhờ S tìm công ty có đăng ký kinh doanh tại Việt Nam để bảo lãnh cho những ngƣời Trung Quốc. S đồng ý và liên hệ với Nguyễn Th Huỳnh H (Kế toán của Công ty TNHH Kỹ thuật điện công nghiệp H) nhờ H sử dụng công ty này để bảo lãnh cho 03 ngƣời Trung Quốc. Tiếp đó, do Công ty TNHH H có số vốn điều lệ ít, không thể bảo lãnh cho nhiều ngƣời đƣợc, nên H đề ngh S tìm thêm một công ty khác, S tiếp tục liên hệ với Lê Th T2 (nhân viên Công ty Cổ phần đầu tƣ xây dựng và thƣơng mại T) nhờ sử dụng công ty này để bảo lãnh và nhờ T2 gửi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty, sau đó S nói dối T2 để T2 tự ý sử dụng các mẫu con dấu (gồm dấu tròn, dấu chữ ký và dấu chức danh Giám đốc công ty) của Công ty T đóng vào 04 hồ sơ ảo lãnh cho 04 ngƣời Trung Quốc và gửi cho S để S gửi cho H.

Sau khi có đƣợc các loại giấy tờ cần thiết gồm: Công văn xin nhập cảnh (thông tin ngƣời nƣớc ngoài, mục đích nhập cảnh của ngƣời nƣớc ngoài, có chữ ký, con dấu của Công ty H và T (mẫu NA2), thông áo mẫu chữ ký, mẫu con dấu Công ty H và Công ty T đã đăng ký với Phòng Đăng ký kinh doanh (mẫu NA16), Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bản photocoppy công chứng, hộ chiếu của ngƣời nƣớc ngoài, giấy giới thiệu của ngƣời đi nộp hồ sơ), H chuyển phát nhanh hồ sơ xin cấp th thực và chuyển khoản 396.800.000 đồng cho Nguyễn Cẩm T, T giao toàn ộ số tiền trên cho một ngƣời tên T1 để ngƣời này hoàn tất thủ tục nhập cảnh theo diện chuyên gia và chuyển lại th thực nhập cảnh cho H để H chuyển cho V, V chuyển cho những ngƣời Trung Quốc.

Với cách thức thủ đoạn nhƣ trên, Nguyễn Ngọc H, Phạm Th V, Lê Th S và Nguyễn Th Huỳnh H đã giúp cho Wang N, Wang Li H và Chen Shu H nhập cảnh trái phép vào Việt Nam vào ngày 12-3-2021 và ngày 20-3-2021; giúp cho Huang Ding M, Jiang Zhi G, Wu Xiao D nhập cảnh trái phép vào Việt Nam ngày 28-3-2021 tại các sân ay Quốc tế Nội Bài và sân ay Quốc tế Đà Nẵng. Công ty H đã ký bảo lãnh cho 03 ngƣời, Công ty T đã ký bảo lãnh cho 04 ngƣời, nhƣng thực tế những ngƣời Trung Quốc này không đƣợc Công ty H và Công ty T bảo lãnh theo diện chuyên gia, không làm việc tại các công ty này.

Thông qua việc tổ chức nhập cảnh trái phép, Nguyễn Ngọc H đã thu lợi bất chính 155.000.000 đồng, H chi bồi dƣỡng cho S và H 800 USD (S giữ tiền, chƣa đƣa cho H), V không hƣởng lợi từ H, nhƣng giúp sức cho H trong việc môi giới, hƣớng dẫn và nhận tiền từ những ngƣời Trung Quốc, giúp H thu lợi bất chính 155.000.000 đồng; bản thân V có hƣởng lợi gián tiếp trong việc giới thiệu cho 2/6 ngƣời Trung Quốc thuê nhà, đƣợc chủ nhà chi ồi dƣỡng 8.000.000 đồng và tạo mối quan hệ làm ăn sau này với H.

- Hành vi làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức:

Do ông Đỗ Huy C (Giám đốc Công ty H) đi công tác Bình Đ nh mang theo con dấu tròn của công ty, nhƣng để hoàn tất hồ sơ ảo lãnh nhập cảnh, Lê Th S và Nguyễn Th Huỳnh H đã thống nhất thuê ngƣời khác làm giả con dấu tròn của Công ty H. Sau khi có con dấu giả, S giả chữ ký của ông C và dùng con dấu giả đóng dấu vào 02 tài liệu (mẫu NA2 và NA16) trong ộ hồ sơ xin cấp th thực cho 03 ngƣời Trung Quốc, giúp cho những ngƣời này nhập cảnh trái phép vào Việt Nam.

Với hành vi phạm tội nhƣ nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm kết án: (1) Nguyễn Ngọc H về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép” theo điểm b (Phạm tội từ 02 lần trở lên), c (Đối với từ 05 ngƣời đến 10 ngƣời) và đ (Thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dƣới 500 triệu đồng) khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự; (2) kết án Phạm Th V về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép” theo điểm b (Phạm tội từ 02 lần trở lên), c (Đối với từ 05 ngƣời đến 10 ngƣời) khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự; (3) kết án Lê Th S V về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép” theo điểm b (Phạm tội từ 02 lần trở lên), c (Đối với từ 05 ngƣời đến 10 ngƣời) khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c (Làm từ 2 đến 5 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả), d (Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện tội phạm nghiêm trọng) khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự và (4) kết án Nguyễn Th Huỳnh H về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c (Làm từ 2 đến 5 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả), d (Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện tội phạm nghiêm trọng) khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về hình phạt:

Các cáo đều có đủ năng lực để nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhƣng vì mục đích vụ lợi, muốn tạo quan hệ làm ăn, các cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội, tổ chức cho 06 ngƣời Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam trái phép. Hành vi của các cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nƣớc trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, mà còn ảnh hƣởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đặc biệt là giai đoạn đang ùng phát d ch bệnh Covid-19, thì việc qua lại iên giới giữa các nƣớc, cũng nhƣ nhập cảnh, ở lại trên lãnh thổ các quốc gia đều đƣợc quản lý rất chặt chẽ. Ngoài ra, hành vi làm giả con dấu, tài liệu của b Lê Th S và Nguyễn Th Huỳnh H còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, ảnh hƣởng xấu đến hoạt động đúng đắn, ình thƣờng và uy tín của Công ty TNHH H nói riêng. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt Phạm Thị V 05 (năm) năm tù, Nguyễn Ngọc H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, Lê Thị S 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù (hai tội) và Nguyễn Thị Huỳnh H 02 (hai) năm tù (hai tội) là tƣơng xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả mà các cáo đã gây ra. Các cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét vai trò, đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của các b cáo để có mức hình phạt cụ thể đối với từng b cáo:

- Đối với Phạm Th V:

Mặc dù, biết rõ những ngƣời Trung Quốc không phải là chuyên gia, không đƣợc công ty nào tại Việt Nam bảo lãnh, không thuộc diện đƣợc nhập cảnh vào Việt Nam, nhƣng Phạm Th V vẫn trực tiếp móc nối với những ngƣời Trung Quốc, nhận tiền và hộ chiếu của những ngƣời này và giúp sức cho Nguyễn Ngọc H trong việc môi giới, hƣớng dẫn, nhận tiền và hộ chiếu của những ngƣời Trung Quốc rồi gửi cho H để H hoàn thành thủ tục xin cấp th thực nhập cảnh theo dạng chuyên gia; hậu quả, đã có 6/7 ngƣời Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, qua đó V giúp H thu lợi bất chính 155.000.000 đồng, còn bản thân V tạo mối quan hệ làm ăn với H và hƣởng lợi gián tiếp trong việc giới thiệu cho 2/6 ngƣời Trung Quốc thuê nhà, đƣợc chủ nhà chi ồi dƣỡng 8.000.000 đồng. Trong vụ án này, V là ngƣời khởi xƣớng và giúp sức cho H thực hiện tội phạm, nên cần xử phạt b cáo hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, do cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhƣ thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp lại số tiền 8.000.000 đồng; có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; gia đình cáo có nhiều ngƣời thân có công với cách mạng, đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng nhiều Bằng khen, Huân, Huy chƣơng kháng chiến. Ngoài ra, gia đình cáo có hoàn cảnh khó khăn, nhƣng quá trình chuẩn b xét xử phúc thẩm đã tự nguyện nộp toàn ộ số tiền phạt, theo Án lệ số 48/2021/AL ngày 25-11-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì đây đƣợc coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nhƣ vậy, tại cấp phúc thẩm b cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, giảm hình phạt cho b cáo.

- Đối với Nguyễn Ngọc H:

Khi đƣợc Phạm Th V đặt vấn đề, mặc dù Nguyên Ngọc H biết rõ những ngƣời Trung Quốc không phải là chuyên gia, không đƣợc công ty nào tại Việt Nam bảo lãnh, nhƣng H vẫn nhận lời môi giới từ V, sau đó thông qua Lê Th S sử dụng Công ty H và Công ty T làm hồ sơ ảo lãnh giả để xin cấp th thực cho 07 ngƣời Trung Quốc; hậu quả, có 6/7 ngƣời Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và H thu lợi bất chính 155.000.000 đồng/576.000.000 đồng. Trong vụ án này, H là ngƣời tổ chức thực hiện hành vi phạm tội, do đó Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt b cáo 04 năm 06 tháng tù. B cáo kháng cáo xin giảm hình phạt và tại phiên toà phúc thẩm b cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra tích cực hợp tác với Cơ quan An ninh điều tra, khai ra đồng phạm và những tình tiết có liên quan đến vụ án, giúp cho việc điều tra đƣợc thuận lợi; tự nguyện nộp lại 75.000.000 đồng thu lợi bất chính; có nhân thân tốt; hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 2 con còn nhỏ và hiện nay b cáo đang bệnh thoái hóa, thoát v đĩa đệm, cần phải điều tr . Ngoài ra, quá trình chuẩn b xét xử phúc thẩm b cáo đã nộp toàn ộ số tiền phạt, theo Án lệ số 48/2021/AL ngày 25-11-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì đây đƣợc coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nhƣ vậy, tại cấp phúc thẩm b cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, giảm hình phạt cho b cáo.

- Đối với Lê Th S:

B cáo cũng biết rõ những ngƣời Trung Quốc không phải là chuyên gia, không đƣợc công ty nào tại Việt Nam bảo lãnh, không thuộc diện đƣợc nhập cảnh vào Việt Nam, nhƣng khi đƣợc Nguyễn Ngọc H gợi ý, cáo đã đồng ý giúp sức cho H và lôi kéo Nguyễn Th Huỳnh H tham gia, sử dụng Công ty H làm giả hồ sơ ảo lãnh cho 03 ngƣời Trung Quốc và lợi dụng Lê Th T2 (em gái mình) sử dụng Công ty T làm giả hồ sơ ảo lãnh cho 04 ngƣời Trung Quốc; hậu quả, đã có 6/7 ngƣời Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và cáo đƣợc trả chi phí ồi dƣỡng là 800 USD (bao gồm cả tiền của Nguyễn Th Huỳnh H). Ngoài hành vi giúp sức cho H, thì để hoàn tất hồ sơ ảo lãnh cho những ngƣời Trung Quốc, b cáo gợi ý với Nguyễn Th Huỳnh H làm giả con dấu tròn của Công ty H và đƣợc H cung cấp tài liệu có mẫu dấu của công ty và mẫu chữ ký của Giám đốc công ty, sau đó cáo thuê ngƣời khác làm giả con dấu của công ty và khi có con dấu, b cáo giả chữ ký của Giám đốc và dùng con dấu giả đóng dấu vào 02 tài liệu (mẫu NA2 và NA16) trong bộ hồ sơ xin cấp th thực cho 03 ngƣời Trung Quốc, giúp cho những ngƣời này nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, do đó Toà án cấp sơ thẩm xử phạt b cáo 05 năm 06 tháng tù (hai tội). B cáo kháng cáo xin giảm hình phạt và tại phiên toà phúc thẩm b cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với Cơ quan An ninh điều tra và khai ra các đồng phạm, giúp cho việc điều tra vụ án đƣợc nhanh chóng, thuận lợi; b cáo có nhân thân tốt; gia đình có thân nhân tham gia cách mạng, đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng nhiều Bằng khen, Huân chƣơng kháng chiến; quá trình sinh sống tại đ a phƣơng tham gia nhiệt tình vào các tổ chức đoàn thể, đƣợc tặng nhiều Giấy khen; có hoàn cảnh khó khăn, nhƣng tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính. Ngoài ra, quá trình chuẩn b xét xử phúc thẩm đã nộp toàn ộ số tiền phạt, theo Án lệ số 48/2021/AL ngày 25-11-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì đây đƣợc coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nhƣ vậy, tại cấp phúc thẩm b cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, giảm hình phạt cho b cáo.

- Đối với Nguyễn Th Huỳnh H:

B cáo biết rõ 03 ngƣời Trung Quốc không phải là chuyên gia, không thuộc diện đƣợc nhập cảnh vào Việt Nam, nhƣng khi đƣợc Lê Th S đề ngh sử dụng Công ty H để bảo lãnh theo diện chuyên gia, b cáo vẫn đồng ý giúp sức cho Lê Th S, tự ý sử dụng Công ty H nơi mình làm việc để hoàn tất hồ sơ bảo lãnh cho 03 ngƣời Trung Quốc nhập cảnh; hậu quả, 03 ngƣời Trung Quốc đã nhập cảnh vào Việt Nam trái phép. Trong vụ án này, b cáo là đồng phạm với vai trò là ngƣời giúp sức, do đó Toà án cấp sơ thẩm xử phạt b cáo 02 năm tù (hai tội). Mặc dù, tại phiên toà phúc thẩm b cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng chƣa thu lợi bất chính; cáo có nhân thân tốt; gia đình có nhiều ngƣời thân tham gia cách mạng, đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng Bằng khen, Huân chƣơng kháng chiến; có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với b cáo là mức thấp nhất của khung hình phạt; đồng thời, b cáo không có đủ điều kiện để đƣợc áp dụng mức hình phạt dƣới khung nhẹ nhất của điều luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của b cáo.

Nhƣ vậy, kháng cáo của các cáo đã đƣợc Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, nhƣng chỉ có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các cáo Phạm Th V, Nguyễn Ngọc H và Lê Th S. Mặc dù, chấp nhận kháng cáo của 03 b cáo này, nhƣng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về việc xử lý đối với hành vi phạm tội trong lĩnh vực xâm phạm trật tự quản lý hành chính, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên hình phạt bổ sung mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết đ nh đối với các cáo.

. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không kháng ngh , Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

. Về án phí:

B cáo không đƣợc chấp nhận kháng cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật; các cáo đƣợc chấp nhận kháng cáo không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Th Huỳnh Huơng.

- Chấp nhận kháng cáo của các cáo Phạm Th V, Nguyễn Ngọc H và Lê Th S.

- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2022/HS-ST ngày 29-8-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về Phần hình phạt chính đối với các cáo Phạm Th V, Nguyễn Ngọc H và Lê Th S.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng các điểm , c khoản 2, khoản 4 Điều 348; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Phạm Thị V 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-02-2022.

- Phạt ổ sung 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nƣớc ( cáo đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0001919 ngày 21-11-2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng).

2.2. Áp dụng các điểm b, c, đ khoản 2, khoản 4 Điều 348; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Nguyễn Ngọc H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo thi hành án (đƣợc trừ thời gian tạm giam từ ngày 23-02-2022 đến ngày 06-4-2022).

- Phạt bổ sung: 20.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nƣớc (b cáo đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0001900 ngày 11-11-2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng).

2.3. Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 341; các điểm , c khoản 2, khoản 4 Điều 348; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Lê Thị S 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép” và 01 (một) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, uộc Lê Thị S phải chấp hành chung là 04 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-02-2022.

- Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nƣớc (tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép”). B cáo đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0001911 ngày 14-11-2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

2.4. Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 341; khoản 1 Điều 348; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 (đối với tội “Làm giả con dấu tài liệu, của cơ quan, tổ chức”) và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Thị Huỳnh H 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức cho ngƣời khác nhập cảnh trái phép” và 01 (một) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, uộc Nguyễn Thị Huỳnh H phải chấp hành chung là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo thi hành án.

3. Các quyết đ nh khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

4. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b, h khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nguyễn Th Huỳnh H phải ch u 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

- Phạm Th V, Nguyễn Ngọc H và Lê Th S không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ