- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Hoàng Thị Th - Lê Phước T"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Th được ly hôn với ông Nguyễn Phước T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 485/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05/5/2022 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 102/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 04 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Th, sinh năm 1988 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: 200/2 Nguyễn Hữu Tiến, phường A, Quận B, Thành phố C.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: 33/4F ấp D, xã E, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/01/2021, Bản tự khai ngày 02/3/2021; Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 05/5/2021 và ngày 23/12/2021; Biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 05/5/2021 và ngày 23/12/2021, nguyên đơn bà Hoàng Thị Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2012 bà và ông T tự nguyện tìm hiểu và tổ chức lễ cưới, hai bên có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22/10/2012.
Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống tại 33/4F ấp D, xã E, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian sống chung, vợ chồng bà đôi khi xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai đã tự hàn gắn để cùng nhau xây dựng gia đình. Tuy nhiên, đến cuối năm 2019 vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên tranh cãi gay gắt, thậm chí gây gỗ, xúc phạm lẫn nhau, trong lúc nóng giận ông T đã đánh và đuổi bà ra khỏi nhà. Bà và ông T đã ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng khó hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, bản thân bà không còn quan tâm, tôn trọng và yêu thương ông T nữa. Do đó, bà xin được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung là trẻ Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 07/9/2013. Hiện trẻ K đang ở với bà nên bà yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ K, không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Bà và ông T tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà và ông T không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 05/5/2021, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 05/5/2021 bị đơn ông Nguyễn Phước T trình bày:
Ông thừa nhận về thời gian, hoàn cảnh và điều kiện kết hôn như bà Hoàng Thị Th trình bày là đúng.
Sau khi kết hôn, thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc tại 35/1B ấp D, xã E, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến cuối năm 2019 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do ông tụ tập bạn bè, không chăm lo làm ăn, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, xúc phạm lẫn nhau, trong lúc nóng giận ông đã đánh và đuổi bà Th ra khỏi nhà. Ông xác định giữa vợ chồng ông có mâu thuẫn nhưng ông vẫn còn thương vợ và mong muốn con có cha, có mẹ nên ông không đồng ý ly hôn với bà Th.
Về con chung: Ông và bà Th có 01 con chung là trẻ Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 07/09/2013. Ông yêu cầu vợ chồng cùng có trách nhiệm nuôi dưỡng trẻ K.
Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập mời ông T đến tham gia phiên họp lần 1 ngày 05/5/2021 và lần 2 ngày 23/12/2021 nhưng ông T chỉ tham gia phiên họp lần 1, sau đó không đến tham gia giải quyết vụ kiện nữa. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Hoàng Thị Th có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Về phía bị đơn ông Nguyễn Phước T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Nguyễn Phước T vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến như sau:
*Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 về thẩm quyền thụ lý vụ án. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã ban hành thông báo thụ lý vụ án giao cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và bị đơn theo đúng quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự về việc tiến hành lập hồ sơ hòa giải, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, tống đạt các văn bản tố tụng và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự
*Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Hoàng Thị Th yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Phước T. Đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn”, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông Nguyễn Phước T hiện đang cư trú tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự có mặt của các đương sự:
Đối với nguyên đơn bà Hoàng Thị Th, sau khi cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, bà có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy việc vắng mặt của bà Th không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án và phù hợp với Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Phước T, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải lần 1 ngày 05/5/2021 và lần 2 ngày 23/12/2021 nhưng ông T chỉ tham gia phiên họp lần 1, sau đó không đến tham gia giải quyết vụ kiện nữa. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử để thông báo thời gian mở phiên tòa vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 12/4/2022 nhưng ông T vắng mặt. Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 05/5/2022 nhưng hôm nay ông T vẫn vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt ông T là phù hợp với quy định Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Thị Th và ông Nguyễn Phước T:
Vào năm 2012 bà Th và ông T tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, hai bên có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22/10/2012. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Sau khoảng thời gian chung sống, bà Th xin được ly hôn với ông T do đôi bên bất đồng ý kiến, thường xuyên gây gỗ, xúc phạm gay gắt với nhau khiến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Trong cuộc sống chung, bà và ông T không còn quan tâm, tôn trọng và yêu thương nhau nữa. Bà Th cũng đã chuyển ra ngoài sống riêng từ năm 2019 cho đến nay. Về phía ông T thì ông thừa nhận trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng ông bà cũng có xảy ra một số mâu thuẫn, trong lúc nóng giận ông đã đánh và đuổi bà Th ra khỏi nhà nhưng ông vẫn còn thương vợ và mong muốn đoàn tụ để con có cha, có mẹ.
Hội đồng xét xử xét thấy, phía ông T có nguyện vọng đoàn tụ gia đình, tuy nhiên qua lần hòa giải tại Tòa án, Tòa án đã động viên cũng như cho thời gian để vợ chồng tạo sự hàn gắn nhưng bà Th vẫn cương quyết xin ly hôn. Phía ông T sau khi tham gia hòa giải lần 1 thì ngưng không đến tòa án, không tham gia hòa giải nữa và cũng không có phương án gì tạo sự đoàn tụ gia đình. Mặc khác, bà Th cũng đã chuyển ra ngoài sống riêng. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa bà Th và ông T không còn, khả năng hàn gắn không có, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, xét yêu cầu của bà Th xin được ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận. Không có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin đoàn tụ gia đình của ông T.
Về con chung: Bà Th và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 07/9/2013. Bà Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ K, không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con. Về phía ông T thì mong muốn cả hai vợ chồng cùng nuôi dạy con nhỏ.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Toá án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì xem xét nguyện vọng của con”;
Căn cứ vào bản tự khai của trẻ Nguyễn Hoàng K;
Hội đồng xét xử xét thấy, hiện trẻ K đang do bà Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và nguyện vọng của trẻ K là mong muốn được ở với bà Th. Do vậy, để đảm bảo ổn định về mặt tâm lý cũng như sự phát triển toàn diện của trẻ về mọi mặt nên xét yêu cầu của bà Th xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ K là có cơ sở chấp nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Th không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà Th và ông T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Th và ông T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 203; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Th được ly hôn với ông Nguyễn Phước T.
2/ Về con chung: Bà Th và ông T có 01 con chung là trẻ Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 07/9/2013.
Sau ly hôn, giao trẻ Nguyễn Hoàng K cho bà Hoàng Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Phước T cho đến khi bà Hoàng Thị Th có đơn yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
3/ Về tài sản chung: Bà Th, ông T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4/ Về nợ chung: Bà Th, ông T khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5/ Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Hoàng Thị Th chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0074528 ngày 02/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà Th đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặn bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND H.HM; - Cơ quan THADS H.HM; - UBND xã E, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Mỹ Linh |