vanban.org

Bản án 485/2021/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Kim Loan - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 485/2021/HS-ST
Ngày: 23/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thu

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Lượng

2/ Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan – Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 456/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 592/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Thị Kim L; giới tính: Nữ; sinh năm 1962, tại thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Không; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa: 00/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Qúa và bà: Trần Thị Phần; Chồng: Lê Minh Trung (đã ly hôn); Con: Có 04 người con, lớn sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền án: Ngày 19/4/2017, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/12/2017 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 28/9/2020 bị can mới chấp hành xong đóng tiền án phí của vụ án trên.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 08/7/2004, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 11/5/2006, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/4/2021 đến nay. (có đơn xin vắng mặt).

Bị hại: Bà Trần Thị T, sinh năm 1985

Địa chỉ: 51 Đường 17, khu phố 5, phường Bình Chiểu, Thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, Trần Thị Kim L (Sinh năm: 1962) nảy sinh ý định tìm người để tài sản sơ hở thì lấy trộm, bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 09 giờ ngày 16/7/2020, L đi xe honda ôm từ phường Linh Xuân, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) đến trước khu đăng ký khám bệnh của Bệnh viện quận Thủ Đức. Tại đây, L thấy chị Trần Thị T (sinh năm 1985) đang đi đối diện có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu đồng trong túi áo khoác bên trái. L giả vờ đi đến và va chạm vào người chị T, đồng thời L dùng tay phải móc lấy chiếc điện thoại di động của chị T bỏ vào túi quần bên phải của L. Chị T nhìn xuống túi áo khoác thì thấy mất điện thoại di động nên hỏi L có lấy trộm điện thoại của chị T không, L khẳng định không lấy. Lúc này, anh Trần Quang Mỹ (là bảo vệ của Bệnh viện) đang đứng gần đó biết được sự việc nên anh Mỹ đã mời chị T và L về phòng bảo vệ của Bệnh viện để làm việc. Khi vào phòng bảo vệ, L dùng tay phải lấy điện thoại di động mà trước đó đã lấy trộm của chị T ra giấu dưới các quyển sách thì bị anh Mỹ, chị T phát hiện nên giữ L cùng chiếc điện thoại di động và báo Công an phường Tam Phú, thành phố Thủ Đức đưa L trụ sở về lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Trần Thị Kim L đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Kết luận định giá tài sản 2134/CV-HĐĐGTSTTTHS ngày 30/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu đồng trị giá 1.200.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu đồng. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho chị T.

Trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Thảo đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 352/CT-VKSTPTĐ ngày 26/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thị Kim L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngày 14/11/2021, bị cáo Trần Thị Kim L có Đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu và kết luận: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Trần Thị Kim L phạm tội: “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 14/11/2021, bị cáo Trần Thị Kim L có Đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị cáo.

Người bị hại là chị Trần Thị Thảo đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Xét thấy sự vắng mặt của người bị hại không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên xét xử vắng mặt bị hại.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 16/7/2020, do cần tiền tiêu xài nên Trần Thị Kim L đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu đồng trị giá 1.200.000 đồng của chị Trần Thị Thảo tại trước khu đăng ký khám bệnh của Bệnh viện quận Thủ Đức thuộc phường Tam Phú, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh, thì bị bắt quả tang. Do Trần Thị Kim L đang có 01 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản nay lại tiếp tục trộm cắp chiếc điện thoại di động của chị T, do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thị Kim L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục vi phạm. Do đó, cần phải có mức án nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người lương thiện có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe kẻ khác góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu đồng. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho người bị hại là chị Trần Thị Thảo, chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim L 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2021.

3. Áp dụng Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thị Kim L chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo Trần Thị Kim L, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ